Chàng về thì đục cũng về

Dùi cui ở lại làm nghề gì ăn?

— Văn học dân gian Việt Nam
Câu ca dao "Chàng về thì đục cũng về, Dùi cui ở lại làm nghề gì ăn?" là một lời than thở mộc mạc, thấm đẫm tình cảm của người phụ nữ Việt Nam xưa. Nó phản ánh một thực tế đau lòng trong cuộc sống hôn nhân và gia đình.

Giải nghĩa câu tục ngữ

Nghĩa đen

Nghĩa đen của câu ca là khi người chồng (chàng) đi làm ăn xa hoặc vắng nhà, thì công việc làm ăn, sinh kế của người vợ cũng bị ảnh hưởng, dường như cũng phải ngừng lại hoặc gặp khó khăn. "Đục" ở đây có thể hiểu là công việc chài lưới, đánh bắt cá.

Nghĩa bóng

Nghĩa bóng thể hiện sự phụ thuộc, trông chờ vào người chồng trong đời sống kinh tế của người phụ nữ xưa. Câu ca còn ngụ ý về sự gắn bó, đồng cam cộng khổ, khi người vợ không thể tự lo liệu cuộc sống mà phải trông cậy vào người chồng. Nó cũng cho thấy nỗi buồn, sự trống vắng và lo lắng khi người trụ cột vắng nhà.

Nguồn gốc và Xuất xứ

Câu ca dao này ra đời trong bối cảnh xã hội Việt Nam phong kiến, khi mà vai trò của người đàn ông là trụ cột chính trong gia đình, là người lo toan công việc làm ăn chính. Người phụ nữ thường ở nhà chăm sóc con cái, gia đình và phụ giúp việc đồng áng hoặc các công việc nhỏ lẻ. Khi người chồng đi làm ăn xa, hoặc trong các nghề nghiệp đòi hỏi sự vắng nhà dài ngày như đi biển, đi rừng, thì người phụ nữ ở nhà không chỉ chịu nỗi cô đơn mà còn gặp khó khăn trong việc mưu sinh, sinh kế, đặc biệt là trong các gia đình nghèo khó. "Đục" ở đây có thể hiểu là công việc làm ăn, sinh kế của gia đình, có thể là nghề chài lưới, đánh bắt cá hoặc các hoạt động kinh tế khác phụ thuộc vào sự tham gia của người chồng. Sự vắng mặt của "chàng" đồng nghĩa với việc "đục" cũng "về", tức là công việc đó cũng ngừng trệ. Câu "Dùi cui ở lại làm nghề gì ăn?" là lời than chua xót, thể hiện sự bế tắc, không biết xoay sở ra sao khi người chồng vắng nhà, khi nguồn sinh kế chính bị gián đoạn. Dùi cui là một vật dụng nhỏ, có thể là công cụ lao động phụ hoặc vật dụng gia đình, nó tượng trưng cho sự nhỏ bé, yếu ớt, không thể tự mình làm ra kế sinh nhai.

Ví dụ sử dụng thực tế

Ví dụ 1
"Nghe chuyện cô ấy than thở chồng đi công tác dài ngày, làm ăn trì trệ, tôi lại nhớ câu ca dao "Chàng về thì đục cũng về, Dùi cui ở lại làm nghề gì ăn?""
Phân tích: Trong trường hợp này, câu ca dao được dùng để so sánh, minh họa cho hoàn cảnh của người phụ nữ đang nói. Nó cho thấy sự đồng cảm với nỗi lo toan, vất vả của cô ấy khi người trụ cột vắng nhà, công việc gia đình bị ảnh hưởng.

Kết luận

Câu ca dao là lời than thân trách phận đầy cảm động, thể hiện thân phận của người phụ nữ trong xã hội cũ. Nó còn là minh chứng cho tình cảm vợ chồng sâu sắc, sự đồng lòng chia sẻ gánh nặng cuộc sống dù trong hoàn cảnh khó khăn nhất.

Bài viết liên quan

Ví dù theo lái xuống tàu

Thì em mới biết cá gầu có gai

Con bơn, con nhệch là hai

Con còng, con ghẹ, nó tài đào hang

Kể rằng cá đuối bơi ngang

Cái đuôi có điện ra đàng làm cao

Lại tăm con cá đuối sao

Nước lên cả nước gặp ngay cá ngần

Biển sâu lại có chướng ngầm

Cá ăn nó lượn ba lần nó ra

Cá Ông thì ở bể xa

Lưỡng long chầu nguyệt có ngà đôi bên

Lần đầu xuống bến xuống thuyền

Sao mà em biết nhãn tiền cá Ông

Ví dù em có sang sông

Thì em mới biết cá Ông chầu đền

Kể từ mặt biển kể lên

Chim, thu, nhụ, đé, vược hên nhất đời

Cá he ngậm nước bao giờ

Mà em dám nói đổ ngờ cá he

Kể cả con cá mòi he

Xương dăm vẫn mặc cứ le cho vào

Kể từ con cá chuồn hoa

Nó nhảy một cái qua ba lần thuyền

Kể từ con cá đối đen

Bắt được đi bán lấy tiền ăn chơi

Dưới bể có cả đồi mồi

Có con lợn bể nó bơi cả ngày

Kể cả con cá mó tày

Vàng xanh cả vẩy cả vây cũng mừng

Kể cả con mực, con nhưng

Cứ cầm cho chặt lưới thừng không buông

Con mực nhuộm đục cả luồng

Đón đuôi thả lưới mà buông đến cùng

Cá mập bơi lội vẫy vùng

Khoanh tay vược lộn ở vùng bể Đông

Kể từ cá mú, cá song

Cá nhung, cá cúng, cá hồng Áng Gai

Cá sông kể cũng rất tài

Cá mè, cá chép, ở khe ngọn nguồn

Trở giời nó mới lượn lên

Ví dù em ở đồng trên gần nguồn

Thì em mới biết nguồn cơn

Thì em mới biết cá rô, trê đồng

Bây giờ em chưa có chồng

Làm gì em biết thuộc lòng cá chim?

Bài ca dao là một bức tranh sinh động về thế giới các loài cá và sinh vật biển, được thể hiện qua lời của một cô gái. Bài ca dao sử dụng hình ảnh phong phú để n...

Em đây chính thực anh hùng

Em đi chắn lưới ở vùng Vạn Hoa

Chắn từ Cái Rồng mà ra

Chắn đến Xà Kẹp chắn qua Bãi Dài

Cái Bàn chắn từ Hòn Hai

Chắn sang Cây Khế, Cái Đài hai hôm

Vụng Đài thấp nước bồn chồn

Cửa Mô sóng vỗ đầu cồn lao xao

Rồi ra ta sẽ chèo vào

Lò Vôi chốn ấy ta vào chắn chơi

Sau thì ta sẽ nghỉ ngơi

Ta chèo vào phố đậu chơi mấy ngày

Chắn quanh cái khúc sông này

Chỗ nào thấp nước ta nay làm chuồng

Em đây ngỏ thực anh tường

Để anh biết thực mọi đường chắn đăng.

Đây là một đoạn trích ca dao dân ca Việt Nam, thể hiện hình ảnh người phụ nữ mạnh mẽ, đảm đang và có ý chí trong lao động, giữ gìn cuộc sống.