Nguồn gốc và Xuất xứ
Câu ca dao này ra đời trong bối cảnh xã hội phong kiến Việt Nam, khi mà vai trò của người phụ nữ, đặc biệt là người làm dâu, vô cùng nặng nề và chịu nhiều ràng buộc. Chế độ phụ quyền quy định người phụ nữ phải "tam tòng tứ đức", phải phục tùng cha, chồng, con. Người con dâu về nhà chồng thường mang thân phận thấp kém, phải "môn đăng hộ đối" theo quan niệm xưa, nếu không môn đăng hộ đối thì càng dễ bị nhà chồng xem thường. Việc nhà chồng đối xử tệ bạc, coi khinh, không coi người con dâu như con cái trong nhà là chuyện không hiếm. Họ phải gánh vác mọi việc nặng nhọc trong nhà, từ việc đồng áng đến việc bếp núc, chăm sóc con cái, phụng dưỡng cha mẹ chồng. Áp lực về sinh con trai nối dõi tông đường cũng đè nặng lên vai người phụ nữ. Nếu làm dâu mà không khéo léo, không chu toàn mọi việc, hoặc có lỗi lầm dù nhỏ, đều có thể bị quy chụp, trách phạt nặng nề. Chính vì những áp lực và sự bất công đó, người phụ nữ thường cất lên tiếng than thở, mong muốn được đối xử công bằng, tôn trọng hơn, hoặc đôi khi vì quá tủi thân mà buông xuôi, chấp nhận cả sự đối xử tệ bạc như "cho ăn cơm sống".