Tài nguyên than mỏ nước Nam

Thằng Tây làm chủ, mình làm cu li

Chỉ vì đói rách phải đi

Đi làm phu mỏ, bỏ quê, bỏ nhà

Một nghìn chín trăm ba ba

Là năm Quý Dậu con gà ác thay

Kể dời phu mỏ Hòn Gai

Công ty than của chủ Tây sang làm

Chiêu phu mộ Khách, An Nam

Cuốc tầng khai mỏ tìm than ra vầy

Than ra ở các mỏ này

Hà Lầm, Hà Sú, mỏ rày Ngã Hai

Bán than cho các nước ngoài

Tàu bè ngoại quốc vãng lai mua dùng

Chủ nhì, chủ nhất, đốc công

Mỗi sở một sếp cai trong sở làm

Làm ra máy trục, máy sàng

Sở Tàu, Than Luyện, Sở Than chung là

Va-gông, than chở về ga

La-ga đặt ở Cốt Na cổng đồn

Để cho xe hỏa dắt dồn

Thật là tiện lợi gọn gàng vân vi

Ăng Lê, Nhật Bản, Hoa Kỳ

Hồng Kông, Thượng Hải đều thì sang mua

Cửa Ông là Cẩm Phả po

Cẩm Phả min, Cọc Sáu, cùng là Mông Dương

Ngoại giao các nước thông thương

Hòn Gai giàu vốn lại cường thịnh ra

Tây Bay coi sổ la voa

Bắc ngay đường sắt cho xe thông hành

Một đường đi thẳng Hà Lầm

Một đường Núi Béo, Cọc Năm đi về …

— Văn học dân gian Việt Nam
Tác phẩm dân ca này là lời than thở, tố cáo nỗi khổ của người dân Việt Nam dưới thời Pháp thuộc. Bài ca mô tả cảnh khai thác than tại Hòn Gai, nơi người Việt trở thành phu mỏ làm thuê cho thực dân Pháp.

Giải nghĩa câu tục ngữ

Nghĩa đen

Bài ca miêu tả chi tiết quy trình khai thác, vận chuyển than tại các mỏ Hòn Gai, Cẩm Phả. Than được khai thác để bán cho các nước ngoài, với sự quản lý chặt chẽ của chủ Tây và hệ thống máy móc hiện đại.

Nghĩa bóng

Qua cảnh làm phu mỏ, bài ca thể hiện sự bất công, áp bức của thực dân Pháp. Nó phản ánh nỗi lòng uất hận, mong muốn thoát khỏi cảnh lầm than và khát vọng độc lập, tự do cho dân tộc.

Nguồn gốc và Xuất xứ

Tác phẩm ra đời trong bối cảnh Việt Nam bị thực dân Pháp đô hộ, đặc biệt là giai đoạn đầu thế kỷ 20. Ngành công nghiệp khai thác than, đặc biệt là tại khu vực Hòn Gai và Cẩm Phả, được Pháp đẩy mạnh để phục vụ nhu cầu công nghiệp của chính quốc. Người dân Việt Nam, do đời sống khó khăn, không có ruộng đất, buộc phải đi làm phu mỏ, chịu cảnh khổ cực, bị bóc lột. Bài ca này có thể được sáng tác bởi những người dân lao động trực tiếp làm phu mỏ, hoặc những người chứng kiến cảnh đời lầm than đó, thể hiện tâm tư, nguyện vọng của họ qua hình thức ca dao dân ca dễ thuộc, dễ truyền bá. Những địa danh như Hòn Gai, Hà Lầm, Cẩm Phả, Cọc Sáu… đều là những địa danh có thật gắn liền với hoạt động khai thác than thời bấy giờ. Việc mô tả chi tiết cách thức làm việc, máy móc, đường sắt cho thấy sự quan sát tinh tường và cảm xúc chân thực của người dân trước hiện thực xã hội.

Ví dụ sử dụng thực tế

Ví dụ 1
"Khi nghe kể về những khó khăn của người lao động nghèo thời xưa, có thể liên hệ và nhắc đến những câu ca dao như thế này."
Phân tích: Câu ca dao này được dùng để minh họa cho hoàn cảnh lịch sử, xã hội, nhằm nhấn mạnh sự vất vả, cực nhọc mà người dân Việt Nam đã phải trải qua dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, đồng thời thể hiện sự trân trọng đối với những thế hệ đi trước.

Kết luận

Tác phẩm là lời tố cáo đanh thép tội ác của thực dân Pháp và thể hiện tinh thần yêu nước, ý chí quật cường của dân tộc Việt Nam. Giá trị nghệ thuật nằm ở ngôn ngữ chân thực, hình ảnh sống động, giàu cảm xúc.

Bài viết liên quan