Con nhạn nó liệng lên mây

Chín hồi vấn vít như vầy mối tơ

Cái sự dầu dãi tự bấy đến giờ

Kiếp phong trần chị Ba rũ đến bao giờ thì thôi

Tiếc thay sắc nước hương trời

Cớ làm sao phải lạc loài đến đây

Ai làm cho nên nỗi nước non này

Bông hoa sao héo dãi dầu với hoa

Căm gan này nên giận trăng già

Tình này ai tỏ cho ta nỗi lòng

— Văn học dân gian Việt Nam
Đoạn ca dao trên là lời than thân trách phận của người phụ nữ tài sắc nhưng gặp cảnh éo le, lạc lõng. Lời ca thể hiện tâm trạng buồn tủi, bi quan trước số phận nghiệt ngã.

Giải nghĩa câu tục ngữ

Nghĩa đen

Hình ảnh con nhạn bay liệng trên trời cao, với chín hồi vấn vít tựa sợi tơ rối. Câu ca diễn tả sự bế tắc, quẩn quanh không lối thoát, như mối tơ vướng mắc mãi không gỡ được.

Nghĩa bóng

Ẩn dụ cho cuộc đời chìm nổi, gian truân của người phụ nữ. Dù mang vẻ đẹp "sắc nước hương trời" nhưng lại phải "lạc loài", chịu cảnh "dầu dãi" và mãi không tìm được bến đỗ bình yên, thể hiện sự bất công của số phận.

Nguồn gốc và Xuất xứ

Câu ca dao này phản ánh sâu sắc thân phận người phụ nữ Việt Nam trong xã hội phong kiến, đặc biệt là những người tài hoa nhưng không gặp may mắn. Bối cảnh xã hội xưa trọng nam khinh nữ, phụ nữ thường bị gả bán, phụ thuộc vào người chồng, đôi khi phải chịu cảnh chồng chung hoặc bị bỏ rơi. "Chị Ba" là cách gọi thân mật, gần gũi, có thể chỉ một người phụ nữ cụ thể hoặc đại diện cho nhiều người phụ nữ cùng cảnh ngộ. "Phong trần" chỉ cuộc đời sóng gió, vất vả, nhiều nỗi truân chuyên. "Mối tơ" là hình ảnh quen thuộc trong đời sống sinh hoạt, sản xuất của người Việt xưa, gợi lên sự phức tạp, khó gỡ. "Trăng già" ẩn dụ cho tạo hóa, số phận khắc nghiệt đã an bài. Toàn bộ bài ca dao là tiếng lòng ai oán, một lời tố cáo gián tiếp xã hội bất công đã vùi dập những kiếp người tài sắc.

Ví dụ sử dụng thực tế

Ví dụ 1
"Khi ai đó than thở về hoàn cảnh éo le, không may mắn trong cuộc sống, mọi người có thể mượn lời ca dao này để đồng cảm."
Phân tích: Câu "Cái sự dầu dãi tự bấy đến giờ / Kiếp phong trần chị Ba rũ đến bao giờ thì thôi" được trích dẫn để diễn tả sự mệt mỏi, chán chường trước những khó khăn, thử thách cứ lặp đi lặp lại trong cuộc đời mà chưa thấy hồi kết.

Kết luận

Bài ca dao là tiếng lòng day dứt, thể hiện tài năng nghệ thuật dân gian trong việc sử dụng hình ảnh ẩn dụ giàu sức gợi. Lời ca là minh chứng cho nỗi niềm chung của người phụ nữ xưa, mang giá trị nhân văn sâu sắc.

Bài viết liên quan

Chưa đi chưa biết Cửa Ông

Đến đây mới biết đường không lối về

Phu sắng-tẩy ai thuê mà đánh

Thẻ than sàng ai bán mà mua

Nhà quê còn có ngày mùa

Đi nhặt, đi mót hột thừa mà ăn

Ở đây rét đói quanh năm

Đi câu cá: rủi, đi săn: hổ vồ

Khu Bò Đái xương khô rải rác

Bến Lò Vôi mấy xác bồng bềnh

Lạc loài bể khổ mông mênh

Thân vờ xơ xác lênh đênh chét mòn

Trót nghe bầu bạn ra đây

Lạ thung, lạ thổ, lạ cây, lạ nhà

Đồn Cẩm Phả sơn hà bát ngát

Huyện Hoành Bồ đá cát mênh mông

Ai ơi đứng lại mà trông

Kìa khe nước độc, nọ ông hùm già

Vui gì mà rủ nhau ra

Làm ăn khổ cực nghĩ mà tủi thân.

Câu ca dao "Chưa đi chưa biết Cửa Ông" là lời cảnh báo về sự khắc nghiệt và hiểm nguy của vùng đất xa lạ, nơi cuộc sống khó khăn, thiếu thốn. Bài ca thể hiện nỗ...

Ba toong đi lại nghênh ngang

Chậm chân thì gậy nó phang vỡ đầu

Công việc khoán nặng, khoán cao

Làm mà không được xơi bao mũi giày

Mồm quát tháo chân tay đá tát

Đánh đập rồi cúp phạt hết lương.

Đoạn ca dao này miêu tả sinh động hình ảnh người cai quản hà khắc, bóc lột sức lao động của người làm thuê trong xã hội xưa. Nó phản ánh một thực tế nghiệt ngã,...