Lĩnh lương còn được năm hào

Ba hào đong gạo, thuốc lào vài xu

Một xu thìa mắm tôm khô

Một hào cá ót, một xu tỏi hành

Hai xu rau diếp rau răm

Ba xu mua chén muối vừng về rang

Thế là được bữa cơm sang

Có canh rau muống, vừng rang đủ mùi

Còn con được một xu xôi

Vợ trầu với thuốc, ngày mai đi mần

Nói ra chẳng bõ tủi thân

Một tháng một lần được một bữa no

Đem ngủ lán dột nằm co

Ngày ngày chui rúc trong lò tối tăm

Bỏ về thì chẳng có ăn

Vợ con đói khổ biết lần vào đâu…

— Văn học dân gian Việt Nam
Câu ca dao "Lĩnh lương còn được năm hào" phản ánh chân thực bức tranh cuộc sống nghèo khó, bần cùng của người lao động Việt Nam xưa. Tác phẩm khắc họa rõ nét sự eo hẹp về vật chất, thiếu thốn đến cùng cực trong sinh hoạt hàng ngày.

Giải nghĩa câu tục ngữ

Nghĩa đen

Câu ca dao miêu tả chi tiết cách một người lao động đã tiêu hết số tiền lương ít ỏi (năm hào) trong một tháng. Từ gạo, thuốc lào, mắm tôm, cá, hành, rau, muối vừng đến cả xôi cho con, tất cả đều được tính toán kỹ lưỡng bằng những đơn vị tiền tệ nhỏ nhất.

Nghĩa bóng

Ẩn chứa sau những con số khô khan là nỗi cay đắng, tủi phận của người lao động bị bóc lột, không đủ sống. Câu ca dao là lời than thân trách phận, tố cáo xã hội bất công đã đẩy người dân vào cảnh khốn cùng, bữa no bữa đói.

Nguồn gốc và Xuất xứ

Câu ca dao này ra đời trong bối cảnh xã hội Việt Nam nửa cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, thời kỳ thực dân Pháp đô hộ và bóc lột sức lao động nặng nề. Người nông dân, thợ thuyền, phu phen phải làm lụng vất vả quanh năm nhưng đồng lương nhận được vô cùng ít ỏi, không đủ trang trải cho cuộc sống tối thiểu. "Năm hào" là một đơn vị tiền tệ nhỏ, thể hiện sự eo hẹp về thu nhập. "Ba hào đong gạo, thuốc lào vài xu" cho thấy giá cả sinh hoạt lúc bấy giờ vẫn còn là gánh nặng. Việc mua sắm từng chút một như "một xu thìa mắm tôm khô", "một hào cá ót" hay "hai xu rau diếp rau răm" cho thấy sự tằn tiện đến kiệt cùng. "Một hào cá ót, một xu tỏi hành" là những thứ tưởng chừng rẻ mạt nhưng cũng phải cân đong đo đếm. "Ba xu mua chén muối vừng về rang" là cách để làm cho bữa ăn thêm phần "sang" với những thứ có sẵn. Ngay cả một chút "xôi" cho con cũng chỉ là "một xu". Việc "vợ trầu với thuốc" cho ngày mai đi làm là những nhu cầu cơ bản nhất. "Lán dột nằm co", "lò tối tăm" mô tả điều kiện sống tồi tàn, thiếu thốn. Toàn bộ bức tranh này phản ánh thực tế đời sống của tầng lớp lao động nghèo khổ, bị áp bức, bóc lột, phải đối mặt với nạn đói triền miên và sự bất công xã hội.

Ví dụ sử dụng thực tế

Ví dụ 1
"Sau khi lĩnh lương tháng này, tôi thấy mình vẫn đang eo hẹp lắm, cứ như câu "lĩnh lương còn được năm hào" vậy."
Phân tích: Người nói dùng câu ca dao này để diễn tả tình trạng thu nhập ít ỏi, không đủ chi tiêu cho cuộc sống, dù đã cố gắng tiết kiệm hết mức có thể, thể hiện sự đồng cảm với hoàn cảnh khó khăn của những người lao động xưa.

Kết luận

Câu ca dao "Lĩnh lương còn được năm hào" là một lời tố cáo mạnh mẽ xã hội bất công, thể hiện nỗi thống khổ của người lao động nghèo. Giá trị nghệ thuật nằm ở cách sử dụng ngôn ngữ chân thực, giàu sức gợi và bố cục liệt kê sinh động.

Bài viết liên quan

Vì thằng giặc mỹ Giôn-xơn

Nên ta phải vượt Trường Sơn qua Lào

Thủ đô xa tự năm nào

Giã từ Tam Đảo, vẫy chào Điện Biên

Nay mai chiến thắng trăm miền

Thủ đô, Tam Đảo, Điện Biên lại về.

Câu ca dao "Vì thằng giặc mỹ Giôn-xơn..." là lời ca hào hùng thể hiện ý chí quyết tâm chống giặc của dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước....

Người Việt Nam phải lấy thuốc lào làm quốc tuý

Còn thú vị nào hơn thú vị yên vân!

Từ vua, quan, đến hạng bình dân,

Ai là chẳng bạn thân với điếu

Từ ông thừa, trở lên cụ thiếu,

Đi ngoài đường, phi điếu bất thành quan.

Ngồi công đường, vin xe trúc nghênh ngang,

Hút mồi thuốc, óc nhà quan thêm sáng suốt.

Nhà thi sĩ gọt câu văn cho chuốt,

Tất phải nhờ điếu thuốc gọi hồn thơ.

Lại những khi óc mỏi, mắt mờ,

Nhờ điếu thuốc mới có cơ tỉnh tớm

Dân thuyền thợ thức khuya, dậy sớm,

Phải cần dùng điếu đóm làm vui.

Khi nhọc nhằn lau trán đẫm mồ hôi,

Vớ lấy điếu, kéo một hơi thời cũng khoái.

Dân cày cấy mưa dầm, nắng dãi,

Bạn tâm giao với cái điếu cày.

Lúc nghỉ ngơi, ngồi dưới bóng cây,

Rít mồi thuốc, say ngây say ngất.

Rồi ngả lưng trên đám cỏ tươi xanh ngắt,

Dễ thiu thiu một giấc êm đềm.

Bạn nhà binh canh gác thâu đêm,

Nhờ điếu thuốc mới khỏi lim dim ngủ gật.

Nội các thức say sưa nghiện ngập,

Ngẫm mà coi, thú nhất thuốc lào.

Nghiện thuốc lào là cái nghiện thanh tao,

Chẳng hại tiền của, mà chẳng hao sĩ diện.

Chốn phòng khách, anh em khi hội kiến,

Có thuốc lào câu chuyện mới thêm duyên.

Khi lòng ta tư lự không yên,

Hút mồi thuốc cũng giải phiền đôi chút.

Nghe tiếng điếu kêu giòn, nhìn khói bay nghi ngút,

Nỗi lo buồn theo khói vút thăng thiên.

Cái điếu cùng ta là bạn chí hiền,

Từ thiên cổ tơ duyên chặt kết.

Cũng có kẻ muốn dứt tình khăng khít,

Vùi điếu đi cho hết đa mang.

Nhưng nỗi nhớ nhung bứt rứt tấm gan vàng,

Chút nghĩa cũ lại đa mang chi tận tuỵ.

Cho nên bảo điếu thuốc lào là quốc tuý,

Thật là lời chí lý không ngoa.

Thuốc lào, ta hút điếu ta,

Điếu ta thọ với sơn hà muôn năm…

Tác phẩm "Người Việt Nam phải lấy thuốc lào làm quốc túy" là một bài ca dao độc đáo, ca ngợi thú vui tao nhã và sự gắn bó mật thiết của thuốc lào với đời sống n...

Thanh nhàn kể chuyện thuốc lào

Kể từ gieo hạt biết nào công phu

Khi cất gánh, lúc lu bù

Phân tro, cỏ giã, sắm lo mọi bề

Sau rồi hái cái đưa về

Kẻ rọc, người cuộn tứ bề xôn xao

Định ngày hẹn thợ lao đao

Chè trưa, rượu sớm biết bao nhiêu tiền

Hoặc hồ rũ, hoặc nguyên mền

Khi nào đóng bánh mới yên trong mình

Bài ca dao "Thanh nhàn kể chuyện thuốc lào" là một tác phẩm độc đáo thuộc thể loại ca dao dân ca. Bài thơ miêu tả chi tiết quá trình trồng, chế biến và thưởng t...