Jê-cờ-ri một bức tình thư,

Ăng-voa, thăm hỏi me-xừ di-đăng

Tú xon gạt nước mắt than rằng:

Cô-song cái phận lăng nhăng nhỡ nhàng.

Đờ-puy thiếp bén duyên chàng,

Nô-xờ chưa được một bàn tiệc vui.

Ê-loa-nhê ai khéo giục xui,

Cu-tô ai nỡ cắt mùi nguyệt hoa

La cua mút mọc, luyn tà,

La săm biết lấy ai là a-mi

Lạnh lùng mảnh áo sơ-mi

Năm canh trằn trọc lơ li một mình.

A-mi ai có thấu tình,

Để cho đến nỗi thân mình biếng ba

Pơ-răng qua để làm quà,

Jê-cơ-ri uyn lét để mà ca-đô

Tự ngày bước xuống ba-tô

Lác-mơ nó chảy như hồ Trúc Yên

Xi vu lét-xê moa tiền,

Thì moa cũng chẳng được yên bông cờ

Tiện lời thăm hỏi ta xơ,

Cùng cả gia quyến ơ-rơ thanh nhàn.

Lơ roa Thành Thái Annam

23 tháng Tám bước sang tháng Mười

Tên em là Nguyễn Thị Thời.​

— Văn học dân gian Việt Nam
Đây là một bài ca dao độc đáo, sử dụng nhiều từ ngữ vay mượn từ tiếng Pháp để thể hiện tâm trạng nhớ thương và sầu muộn của người phụ nữ. Bài ca dao cho thấy sự giao thoa văn hóa và ảnh hưởng của lối sống phương Tây vào Việt Nam đầu thế kỷ 20.

Giải nghĩa câu tục ngữ

Nghĩa đen

Bài ca dao là lời thổ lộ tình cảm của một người phụ nữ tên Nguyễn Thị Thời, gửi gắm tâm tư qua một bức thư tình. Nàng than thở về nỗi lòng dan díu, lỡ làng và sự chia cắt trong tình yêu, thể hiện nỗi nhớ nhung day dứt.

Nghĩa bóng

Bài ca dao là lời than thân trách phận về tình duyên trắc trở, lỡ làng. Nó thể hiện nỗi buồn cô đơn, sự tủi phận của người phụ nữ trong hoàn cảnh tình yêu không trọn vẹn, đồng thời cho thấy khát vọng được yêu thương, chia sẻ.

Nguồn gốc và Xuất xứ

Bài ca dao này ra đời trong bối cảnh Việt Nam đầu thế kỷ 20, khi nước ta còn là thuộc địa của Pháp. Sự có mặt của người Pháp mang theo nhiều yếu tố văn hóa mới, trong đó có ngôn ngữ và lối sống. Bài ca dao là minh chứng sống động cho sự vay mượn từ ngữ tiếng Pháp (Jê-cờ-ri, Ăng-voa, Tú xon, Cô-song, Đờ-puy, Nô-xờ, Ê-loa-nhê, Cu-tô, La cua, luyn tà, La săm, a-mi, Jê-cơ-ri uyn lét, ca-đô, ba-tô, Lác-mơ, Xi vu lét-xê moa, ta xơ, ơ-rơ, Lơ roa Thành Thái Annam) để diễn tả tâm trạng tình yêu. Tên người gửi (Nguyễn Thị Thời) và địa danh (An Nam, Thành Thái) cùng ngày tháng (23 tháng Tám bước sang tháng Mười) cho thấy đây là một sáng tác cá nhân hoặc một nhóm người có tiếp xúc với văn hóa Pháp, thể hiện tâm tư của những người phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ giao thoa văn hóa mạnh mẽ, khi những trói buộc cũ và những ảnh hưởng mới cùng tồn tại.

Ví dụ sử dụng thực tế

Ví dụ 1
"Khi ai đó tâm sự về nỗi nhớ nhung người yêu xa xứ, có thể mượn lời bài ca dao này để chia sẻ."
Phân tích: Câu ca dao được sử dụng để diễn tả tâm trạng nhớ nhung, sầu muộn và tình yêu không trọn vẹn. Nó giúp người nghe đồng cảm với nỗi lòng của người đang yêu xa, thể hiện sự đồng điệu về cảm xúc.

Kết luận

Bài ca dao là một tác phẩm nghệ thuật dân gian độc đáo, mang giá trị lịch sử và văn hóa cao. Nó phản ánh chân thực tâm tư tình cảm của người phụ nữ Việt Nam trong giai đoạn lịch sử đặc biệt, đồng thời cho thấy sự sáng tạo trong việc tiếp nhận và biến đổi ngôn ngữ.

Bài viết liên quan