Anh làm lò đá thì có máy khoan

Một ngày sáu lỗ nó giao đoan cho liền

Anh mà làm được vẹn tuyền

Thì anh mới được tính tiền công cho

Công thì bốn tám đồng xu

Gạo thì ăn chịu để phu phàn nàn

Tiền công hàng tháng chẳng hoàn

Nó còn lưu lại để giam giữ mình

Thằng Tây, thằng xếp một vành

Mồ hôi công sức của mình chúng ăn

Làm thì phoi đá, phong than

Anh hít vào ruột vào gan suốt ngày

Mắc bệnh gầy yếu đắng cay

Cơn ho hộc máu chảy ngay ròng ròng

Cảnh nghèo cực khổ vô cùng

Thuốc thang chẳng có lăn đùng chết tươi.

— Văn học dân gian Việt Nam
Đây là một bài ca dao thể hiện nỗi khổ của người lao động làm trong các xưởng lò đá thời Pháp thuộc. Bài ca dao phản ánh chân thực hiện thực xã hội đầy bất công, áp bức.

Giải nghĩa câu tục ngữ

Nghĩa đen

Bài ca dao mô tả công việc nặng nhọc của người thợ lò đá, dùng khoan để tạo lỗ trên đá. Họ làm việc cật lực nhưng tiền công ít ỏi, gạo thì ăn chịu, tiền lương bị giữ lại. Điều này cho thấy sự bóc lột tàn tệ của chủ xưởng.

Nghĩa bóng

Bài ca dao là lời tố cáo tội ác của thực dân Pháp và tay sai đã bóc lột sức lao động của người dân Việt Nam. Nó ca ngợi tinh thần lao động kiên cường nhưng cũng thể hiện sự uất hận, phẫn uất trước cảnh đời lầm than.

Nguồn gốc và Xuất xứ

Bài ca dao này ra đời trong bối cảnh Việt Nam bị thực dân Pháp đô hộ, đặc biệt là giai đoạn khai thác thuộc địa lần thứ nhất (cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20). Pháp đã đẩy mạnh việc khai thác tài nguyên thiên nhiên, trong đó có đá, phục vụ cho các công trình xây dựng, cầu cống, đường sá của chúng. Các xưởng lò đá mọc lên, thu hút nhiều lao động nghèo khổ từ nông thôn. Người lao động bị đối xử tàn tệ, tiền công rẻ mạt, điều kiện làm việc nguy hiểm, độc hại. Họ phải chịu đựng sự áp bức, bóc lột từ chủ xưởng, thường là người Pháp hoặc tay sai người Việt. Hoàn cảnh khốn khó, bệnh tật, cái chết vì tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp là điều không hiếm gặp. Bài ca dao là tiếng lòng của những người thợ, phản ánh trực tiếp thực trạng lao động khổ sai và sự bất công xã hội lúc bấy giờ.

Ví dụ sử dụng thực tế

Ví dụ 1
"Nghe câu chuyện của ông, tôi lại nhớ bài ca dao 'Anh làm lò đá thì có máy khoan...' của người xưa."
Phân tích: Câu này được sử dụng để liên hệ, so sánh hoàn cảnh khó khăn, vất vả của ông lão với nội dung bài ca dao. Nó gợi lên sự đồng cảm và hiểu biết về lịch sử, về thân phận người lao động xưa.

Kết luận

Bài ca dao là một tác phẩm có giá trị hiện thực sâu sắc, phản ánh chân thực nỗi khổ của người lao động dưới ách thống trị thực dân. Nó còn thể hiện giá trị nhân văn cao cả khi cất lên tiếng nói bênh vực, đồng cảm với tầng lớp bị áp bức.

Bài viết liên quan

Chưa đi chưa biết Cửa Ông

Đến đây mới biết đường không lối về

Phu sắng-tẩy ai thuê mà đánh

Thẻ than sàng ai bán mà mua

Nhà quê còn có ngày mùa

Đi nhặt, đi mót hột thừa mà ăn

Ở đây rét đói quanh năm

Đi câu cá: rủi, đi săn: hổ vồ

Khu Bò Đái xương khô rải rác

Bến Lò Vôi mấy xác bồng bềnh

Lạc loài bể khổ mông mênh

Thân vờ xơ xác lênh đênh chét mòn

Trót nghe bầu bạn ra đây

Lạ thung, lạ thổ, lạ cây, lạ nhà

Đồn Cẩm Phả sơn hà bát ngát

Huyện Hoành Bồ đá cát mênh mông

Ai ơi đứng lại mà trông

Kìa khe nước độc, nọ ông hùm già

Vui gì mà rủ nhau ra

Làm ăn khổ cực nghĩ mà tủi thân.

Câu ca dao "Chưa đi chưa biết Cửa Ông" là lời cảnh báo về sự khắc nghiệt và hiểm nguy của vùng đất xa lạ, nơi cuộc sống khó khăn, thiếu thốn. Bài ca thể hiện nỗ...

Ai đem tôi đến chốn này

Bên kia Vạ Cháy, bên này Bang Gai

Trên đồn có lão quan hai

Cửa Lục tàu đậu một vài chỗ sâu

Thằng Tây mưu mẹo đã lâu

Đóng ba chiếc tầu chạy cạn cả ba

Một chiếc thì chạy Cốt Na

Chiếc vào Hà Sú, chiếc ra Hà Lầm

Mười giờ rưỡi nó kéo còi tầm

Cu li đâu đấy về nằm nghỉ ngơi

Đến mười hai giờ bốn mươi

Síp lê một tiếng muôn người kéo ra

Nó quát một tiếng chẳng là

Nó quát hai tiếng giãn ra hai hàng

Xướng thẻ thì xướng rõ ràng

Nó biên vào sổ đi làm táo tươi

Người thì ghè đá nung vôi

Người thì vác gỗ ai coi cho tường

Người thì xẻ đất đắp đường

Người thì đánh sắt ở trong lò rèn

Người thì xẻ ván đóng xe

Người thì chẻ trúc, chẻ tre đan lồng

Người xe hỏa, người máy rồng

Người biên kho gỗ, người trông kho dầu …

Tác phẩm ca dao này phản ánh chân thực cảnh lao động khổ sai của người dân Việt Nam dưới thời Pháp thuộc. Nó khắc họa một bức tranh sống động về cuộc sống bị bó...

Tài nguyên than mỏ nước Nam

Thằng Tây làm chủ, mình làm cu li

Chỉ vì đói rách phải đi

Đi làm phu mỏ, bỏ quê, bỏ nhà

Một nghìn chín trăm ba ba

Là năm Quý Dậu con gà ác thay

Kể dời phu mỏ Hòn Gai

Công ty than của chủ Tây sang làm

Chiêu phu mộ Khách, An Nam

Cuốc tầng khai mỏ tìm than ra vầy

Than ra ở các mỏ này

Hà Lầm, Hà Sú, mỏ rày Ngã Hai

Bán than cho các nước ngoài

Tàu bè ngoại quốc vãng lai mua dùng

Chủ nhì, chủ nhất, đốc công

Mỗi sở một sếp cai trong sở làm

Làm ra máy trục, máy sàng

Sở Tàu, Than Luyện, Sở Than chung là

Va-gông, than chở về ga

La-ga đặt ở Cốt Na cổng đồn

Để cho xe hỏa dắt dồn

Thật là tiện lợi gọn gàng vân vi

Ăng Lê, Nhật Bản, Hoa Kỳ

Hồng Kông, Thượng Hải đều thì sang mua

Cửa Ông là Cẩm Phả po

Cẩm Phả min, Cọc Sáu, cùng là Mông Dương

Ngoại giao các nước thông thương

Hòn Gai giàu vốn lại cường thịnh ra

Tây Bay coi sổ la voa

Bắc ngay đường sắt cho xe thông hành

Một đường đi thẳng Hà Lầm

Một đường Núi Béo, Cọc Năm đi về …

Tác phẩm dân ca này là lời than thở, tố cáo nỗi khổ của người dân Việt Nam dưới thời Pháp thuộc. Bài ca mô tả cảnh khai thác than tại Hòn Gai, nơi người Việt tr...