Bây giờ đã chín mười giờ

Đã tầm nhà máy mà chưa thấy chàng

Trông ra nhà máy rõ ràng

Thấy chàng đun bếp dọn bàn rửa xoong

Ngày công chết đói đã xong

Lại thêm một buổi không công hầu người

Ăn thì gạo mục cá khô

Ngày mười hai tiếng đồng hồ đội than.

— Văn học dân gian Việt Nam
Đoạn ca dao trên khắc họa chân thực cuộc sống lam lũ, vất vả của người lao động, đặc biệt là những người phụ nữ, trong xã hội xưa. Nó phản ánh một thực trạng đau lòng về sự bóc lột sức lao động và cuộc sống thiếu thốn.

Giải nghĩa câu tục ngữ

Nghĩa đen

Câu ca mô tả một người phụ nữ thức dậy từ sớm, chuẩn bị bữa ăn cho chồng sau một ngày lao động mệt nhọc. Dù đã muộn và đói, cô vẫn phải phục vụ chồng, thể hiện sự hy sinh và cam chịu của phận nữ nhi.

Nghĩa bóng

Hình ảnh 'đun bếp dọn bàn rửa xoong' và 'đội than' ẩn dụ cho sự nhọc nhằn, vất vả, và sự hy sinh thầm lặng của người lao động. Câu ca còn ngụ ý phê phán thói lười biếng, ỷ lại, và lên án sự bất công trong lao động.

Nguồn gốc và Xuất xứ

Đoạn ca dao này ra đời trong bối cảnh xã hội Việt Nam phong kiến, nơi mà lao động nông nghiệp là chủ yếu và quan niệm trọng nam khinh nữ còn nặng nề. Người phụ nữ thường gánh vác phần lớn công việc gia đình, từ đồng áng đến bếp núc, con cái, trong khi người chồng có thể có vai trò ít vất vả hơn. Cụm từ 'ngày công chết đói đã xong' chỉ một ngày lao động cực nhọc, thường là lao động nông nghiệp hoặc một công việc nặng nhọc khác. Việc 'đội than' là một hình ảnh đặc trưng cho công việc khai thác, vận chuyển than, một công việc cực kỳ nguy hiểm và độc hại trong các hầm mỏ xưa. Hoàn cảnh ra đời của câu ca dao này gắn liền với cuộc sống của những người nông dân, thợ thủ công, hoặc những người làm công trong các gia đình địa chủ, quan lại, nơi sự phân chia lao động và đối xử giữa nam và nữ còn nhiều bất công. Nó phản ánh thực trạng xã hội đói nghèo, khan hiếm lương thực ('gạo mục cá khô') và sự bóc lột sức lao động tàn tệ.

Ví dụ sử dụng thực tế

Ví dụ 1
"Khi ai đó than thở về việc phải làm lụng vất vả mà vẫn nghèo, người khác có thể mượn ý câu ca dao này để nói."
Phân tích: Trong trường hợp này, câu ca dao được sử dụng để diễn tả sự tương đồng về hoàn cảnh, nhấn mạnh sự nhọc nhằn của công việc, sự bất công trong hưởng thụ lao động, và thể hiện sự đồng cảm với người nói.

Kết luận

Đoạn ca dao là lời than thở, tố cáo về cuộc sống khổ cực và sự bất công mà người lao động phải gánh chịu. Nó có giá trị tố cáo xã hội sâu sắc và thể hiện lòng đồng cảm, xót thương của nhân dân với những thân phận nhỏ bé.

Bài viết liên quan

Chưa đi chưa biết Cửa Ông

Đến đây mới biết đường không lối về

Phu sắng-tẩy ai thuê mà đánh

Thẻ than sàng ai bán mà mua

Nhà quê còn có ngày mùa

Đi nhặt, đi mót hột thừa mà ăn

Ở đây rét đói quanh năm

Đi câu cá: rủi, đi săn: hổ vồ

Khu Bò Đái xương khô rải rác

Bến Lò Vôi mấy xác bồng bềnh

Lạc loài bể khổ mông mênh

Thân vờ xơ xác lênh đênh chét mòn

Trót nghe bầu bạn ra đây

Lạ thung, lạ thổ, lạ cây, lạ nhà

Đồn Cẩm Phả sơn hà bát ngát

Huyện Hoành Bồ đá cát mênh mông

Ai ơi đứng lại mà trông

Kìa khe nước độc, nọ ông hùm già

Vui gì mà rủ nhau ra

Làm ăn khổ cực nghĩ mà tủi thân.

Câu ca dao "Chưa đi chưa biết Cửa Ông" là lời cảnh báo về sự khắc nghiệt và hiểm nguy của vùng đất xa lạ, nơi cuộc sống khó khăn, thiếu thốn. Bài ca thể hiện nỗ...

Ai đem tôi đến chốn này

Bên kia Vạ Cháy, bên này Bang Gai

Trên đồn có lão quan hai

Cửa Lục tàu đậu một vài chỗ sâu

Thằng Tây mưu mẹo đã lâu

Đóng ba chiếc tầu chạy cạn cả ba

Một chiếc thì chạy Cốt Na

Chiếc vào Hà Sú, chiếc ra Hà Lầm

Mười giờ rưỡi nó kéo còi tầm

Cu li đâu đấy về nằm nghỉ ngơi

Đến mười hai giờ bốn mươi

Síp lê một tiếng muôn người kéo ra

Nó quát một tiếng chẳng là

Nó quát hai tiếng giãn ra hai hàng

Xướng thẻ thì xướng rõ ràng

Nó biên vào sổ đi làm táo tươi

Người thì ghè đá nung vôi

Người thì vác gỗ ai coi cho tường

Người thì xẻ đất đắp đường

Người thì đánh sắt ở trong lò rèn

Người thì xẻ ván đóng xe

Người thì chẻ trúc, chẻ tre đan lồng

Người xe hỏa, người máy rồng

Người biên kho gỗ, người trông kho dầu …

Tác phẩm ca dao này phản ánh chân thực cảnh lao động khổ sai của người dân Việt Nam dưới thời Pháp thuộc. Nó khắc họa một bức tranh sống động về cuộc sống bị bó...

Tài nguyên than mỏ nước Nam

Thằng Tây làm chủ, mình làm cu li

Chỉ vì đói rách phải đi

Đi làm phu mỏ, bỏ quê, bỏ nhà

Một nghìn chín trăm ba ba

Là năm Quý Dậu con gà ác thay

Kể dời phu mỏ Hòn Gai

Công ty than của chủ Tây sang làm

Chiêu phu mộ Khách, An Nam

Cuốc tầng khai mỏ tìm than ra vầy

Than ra ở các mỏ này

Hà Lầm, Hà Sú, mỏ rày Ngã Hai

Bán than cho các nước ngoài

Tàu bè ngoại quốc vãng lai mua dùng

Chủ nhì, chủ nhất, đốc công

Mỗi sở một sếp cai trong sở làm

Làm ra máy trục, máy sàng

Sở Tàu, Than Luyện, Sở Than chung là

Va-gông, than chở về ga

La-ga đặt ở Cốt Na cổng đồn

Để cho xe hỏa dắt dồn

Thật là tiện lợi gọn gàng vân vi

Ăng Lê, Nhật Bản, Hoa Kỳ

Hồng Kông, Thượng Hải đều thì sang mua

Cửa Ông là Cẩm Phả po

Cẩm Phả min, Cọc Sáu, cùng là Mông Dương

Ngoại giao các nước thông thương

Hòn Gai giàu vốn lại cường thịnh ra

Tây Bay coi sổ la voa

Bắc ngay đường sắt cho xe thông hành

Một đường đi thẳng Hà Lầm

Một đường Núi Béo, Cọc Năm đi về …

Tác phẩm dân ca này là lời than thở, tố cáo nỗi khổ của người dân Việt Nam dưới thời Pháp thuộc. Bài ca mô tả cảnh khai thác than tại Hòn Gai, nơi người Việt tr...