Bây giờ gặp phải hội này

Khi trời hạn hán, khi hay mưa dầm

Khi trời gió bão ầm ầm,

Đồng tiền lúa thóc, mười phần được ba

Lấy gì đặng nộp cho chàng

Lấy gì công việc xóm làng cho an

Lấy gì sưu thuế cho làng

Lấy gì hỗ trợ trên đàng làm ăn

Trời làm chi cực hại dân

Trời làm mất mát thêm phần khó khăn!

— Văn học dân gian Việt Nam
Đoạn ca dao này phản ánh nỗi thống khổ của người nông dân Việt Nam xưa dưới tác động của thiên tai và sự bóc lột của chế độ phong kiến. Nó thể hiện sự bất lực và khát vọng về một cuộc sống ấm no, an lành.

Giải nghĩa câu tục ngữ

Nghĩa đen

Câu ca mô tả tình cảnh khó khăn khi thời tiết khắc nghiệt như hạn hán, mưa dầm hay bão tố hoành hành, khiến mùa màng thất bát. Dù cố gắng làm lụng, người nông dân chỉ thu hoạch được một phần nhỏ, không đủ để trang trải cuộc sống, nộp sưu thuế và lo công việc làng xã.

Nghĩa bóng

Câu ca thể hiện sự oán thán, trách móc đối với trời đất và triều đình đã gây ra cảnh lầm than cho dân đen. Nó ngụ ý rằng thiên tai, cùng với gánh nặng sưu thuế, đã đẩy người dân vào bước đường cùng, khiến cuộc sống trở nên bế tắc và khổ sở.

Nguồn gốc và Xuất xứ

Đoạn ca dao này ra đời trong bối cảnh nông nghiệp lúa nước truyền thống của Việt Nam, nơi cuộc sống của người nông dân phụ thuộc hoàn toàn vào sự ưu đãi của thiên nhiên. Những năm mất mùa do hạn hán, lũ lụt, bão gió không chỉ đe dọa nguồn sống trực tiếp mà còn dẫn đến tình trạng đói nghèo triền miên. Bên cạnh đó, gánh nặng sưu thuế, lao dịch thời phong kiến là một yếu tố trầm trọng làm gia tăng sự khốn cùng. Người nông dân phải nộp phần lớn sản phẩm làm ra cho địa chủ, quan lại, triều đình, khiến họ không còn gì để sinh sống, để lo cho các nghĩa vụ cộng đồng và để tái đầu tư sản xuất. Sự kết hợp giữa 'trời làm' (thiên tai) và 'chàng' (chế độ cai trị) đã tạo nên một bức tranh bi đát về thân phận người dân quê, khiến họ phải thốt lên những lời ai oán, than trời trách đất như trong đoạn ca dao này, phản ánh một thực tế xã hội khắc nghiệt của nhiều thế kỷ trước.

Ví dụ sử dụng thực tế

Ví dụ 1
"Khi nghe tin lụt lội gây mất mùa, bà cụ thở dài: 'Trời làm chi cực hại dân!'"
Phân tích: Câu này được sử dụng để diễn tả sự bất lực, oán thán trước hoàn cảnh thiên tai gây thiệt hại nặng nề về mùa màng, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của người dân, tương tự như hoàn cảnh được mô tả trong ca dao.

Kết luận

Đoạn ca dao là lời tố cáo đầy sức nặng về sự tàn khốc của thiên tai và chính sách hà khắc của chế độ phong kiến đối với người nông dân. Nó mang giá trị nhân văn sâu sắc, thể hiện tiếng nói thương đời, thương dân của nhân dân ta.

Bài viết liên quan

Chưa đi chưa biết Cửa Ông

Đến đây mới biết đường không lối về

Phu sắng-tẩy ai thuê mà đánh

Thẻ than sàng ai bán mà mua

Nhà quê còn có ngày mùa

Đi nhặt, đi mót hột thừa mà ăn

Ở đây rét đói quanh năm

Đi câu cá: rủi, đi săn: hổ vồ

Khu Bò Đái xương khô rải rác

Bến Lò Vôi mấy xác bồng bềnh

Lạc loài bể khổ mông mênh

Thân vờ xơ xác lênh đênh chét mòn

Trót nghe bầu bạn ra đây

Lạ thung, lạ thổ, lạ cây, lạ nhà

Đồn Cẩm Phả sơn hà bát ngát

Huyện Hoành Bồ đá cát mênh mông

Ai ơi đứng lại mà trông

Kìa khe nước độc, nọ ông hùm già

Vui gì mà rủ nhau ra

Làm ăn khổ cực nghĩ mà tủi thân.

Câu ca dao "Chưa đi chưa biết Cửa Ông" là lời cảnh báo về sự khắc nghiệt và hiểm nguy của vùng đất xa lạ, nơi cuộc sống khó khăn, thiếu thốn. Bài ca thể hiện nỗ...

Ai đem tôi đến chốn này

Bên kia Vạ Cháy, bên này Bang Gai

Trên đồn có lão quan hai

Cửa Lục tàu đậu một vài chỗ sâu

Thằng Tây mưu mẹo đã lâu

Đóng ba chiếc tầu chạy cạn cả ba

Một chiếc thì chạy Cốt Na

Chiếc vào Hà Sú, chiếc ra Hà Lầm

Mười giờ rưỡi nó kéo còi tầm

Cu li đâu đấy về nằm nghỉ ngơi

Đến mười hai giờ bốn mươi

Síp lê một tiếng muôn người kéo ra

Nó quát một tiếng chẳng là

Nó quát hai tiếng giãn ra hai hàng

Xướng thẻ thì xướng rõ ràng

Nó biên vào sổ đi làm táo tươi

Người thì ghè đá nung vôi

Người thì vác gỗ ai coi cho tường

Người thì xẻ đất đắp đường

Người thì đánh sắt ở trong lò rèn

Người thì xẻ ván đóng xe

Người thì chẻ trúc, chẻ tre đan lồng

Người xe hỏa, người máy rồng

Người biên kho gỗ, người trông kho dầu …

Tác phẩm ca dao này phản ánh chân thực cảnh lao động khổ sai của người dân Việt Nam dưới thời Pháp thuộc. Nó khắc họa một bức tranh sống động về cuộc sống bị bó...

Tài nguyên than mỏ nước Nam

Thằng Tây làm chủ, mình làm cu li

Chỉ vì đói rách phải đi

Đi làm phu mỏ, bỏ quê, bỏ nhà

Một nghìn chín trăm ba ba

Là năm Quý Dậu con gà ác thay

Kể dời phu mỏ Hòn Gai

Công ty than của chủ Tây sang làm

Chiêu phu mộ Khách, An Nam

Cuốc tầng khai mỏ tìm than ra vầy

Than ra ở các mỏ này

Hà Lầm, Hà Sú, mỏ rày Ngã Hai

Bán than cho các nước ngoài

Tàu bè ngoại quốc vãng lai mua dùng

Chủ nhì, chủ nhất, đốc công

Mỗi sở một sếp cai trong sở làm

Làm ra máy trục, máy sàng

Sở Tàu, Than Luyện, Sở Than chung là

Va-gông, than chở về ga

La-ga đặt ở Cốt Na cổng đồn

Để cho xe hỏa dắt dồn

Thật là tiện lợi gọn gàng vân vi

Ăng Lê, Nhật Bản, Hoa Kỳ

Hồng Kông, Thượng Hải đều thì sang mua

Cửa Ông là Cẩm Phả po

Cẩm Phả min, Cọc Sáu, cùng là Mông Dương

Ngoại giao các nước thông thương

Hòn Gai giàu vốn lại cường thịnh ra

Tây Bay coi sổ la voa

Bắc ngay đường sắt cho xe thông hành

Một đường đi thẳng Hà Lầm

Một đường Núi Béo, Cọc Năm đi về …

Tác phẩm dân ca này là lời than thở, tố cáo nỗi khổ của người dân Việt Nam dưới thời Pháp thuộc. Bài ca mô tả cảnh khai thác than tại Hòn Gai, nơi người Việt tr...