Cây mắm cò quăm, cây sú cò queo

Thắt lưng cho chặt mà theo anh về

Ăn cơm với cá mòi he,

Lấy chồng Cẩm Phả, đun xe suốt đời.

— Văn học dân gian Việt Nam
Câu ca dao 'Cây mắm cò quăm, cây sú cò queo...' là một lời than thở về thân phận người phụ nữ lấy chồng làm nghề biển vất vả. Lời ca dao thể hiện nỗi buồn, sự cam chịu nhưng cũng ẩn chứa khát vọng về một cuộc sống tốt đẹp hơn.

Giải nghĩa câu tục ngữ

Nghĩa đen

Nghĩa đen, 'cây mắm cò quăm, cây sú cò queo' mô tả hình ảnh những loài cây mọc ở vùng ngập mặn, thân cây thường cong queo, không thẳng thắn. 'Thắt lưng cho chặt' là hành động chuẩn bị sẵn sàng cho một cuộc sống khó khăn, vất vả.

Nghĩa bóng

Nghĩa bóng, câu ca dao ví von người phụ nữ lấy chồng làm nghề biển cũng vất vả, lam lũ như thân cây mắm, cây sú ven biển. Cuộc sống của họ gắn liền với biển cả, quanh năm đối mặt với sóng gió, nhọc nhằn, 'đun xe suốt đời' ám chỉ sự vất vả, không có ngày nghỉ ngơi.

Nguồn gốc và Xuất xứ

Câu ca dao này ra đời trong bối cảnh nghề đi biển, đánh bắt cá và buôn bán hải sản là sinh kế chính của người dân vùng duyên hải miền Bắc, đặc biệt là khu vực Quảng Ninh. Cẩm Phả xưa kia là một cảng biển sầm uất, tập trung nhiều tàu thuyền đánh cá và hoạt động buôn bán tấp nập. Nghề biển thường rất nguy hiểm, vất vả, phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên. Phụ nữ lấy chồng làm nghề này phải gánh vác nhiều công việc, từ việc sửa lưới, phơi cá, buôn bán nhỏ lẻ, đến chăm sóc gia đình khi chồng đi biển dài ngày. Hình ảnh 'cây mắm cò quăm, cây sú cò queo' là sự quan sát tinh tế của người xưa về môi trường sống ven biển, nơi những loài cây này phải oằn mình chống chọi với điều kiện khắc nghiệt, từ đó liên tưởng đến cuộc đời lam lũ, nhọc nhằn của những người phụ nữ lấy chồng làm nghề biển. Lời ca dao phản ánh thực tế xã hội, nơi lao động biển cực nhọc và sự hy sinh thầm lặng của người phụ nữ.

Ví dụ sử dụng thực tế

Ví dụ 1
"Khi nói về cuộc sống vất vả của những người vợ có chồng làm nghề đánh cá xa bờ, người ta thường hay nhắc đến câu: 'Cây mắm cò quăm, cây sú cò queo, thắt lưng cho chặt mà theo anh về...'"
Phân tích: Câu ca dao được sử dụng để ví von, miêu tả sự nhọc nhằn, vất vả trong cuộc sống mưu sinh của những người phụ nữ có chồng làm nghề biển. Nó gợi lên hình ảnh người vợ tảo tần, chịu thương chịu khó, gắn bó với biển cùng chồng.

Kết luận

Câu ca dao là một bức tranh chân thực về thân phận người phụ nữ lao động nghèo thời xưa, đặc biệt là những người vợ của ngư dân. Nó không chỉ thể hiện sự nhọc nhằn, lam lũ mà còn ẩn chứa vẻ đẹp của sự kiên cường, cam chịu và tình yêu thương gia đình.

Bài viết liên quan

Chưa đi chưa biết Cửa Ông

Đến đây mới biết đường không lối về

Phu sắng-tẩy ai thuê mà đánh

Thẻ than sàng ai bán mà mua

Nhà quê còn có ngày mùa

Đi nhặt, đi mót hột thừa mà ăn

Ở đây rét đói quanh năm

Đi câu cá: rủi, đi săn: hổ vồ

Khu Bò Đái xương khô rải rác

Bến Lò Vôi mấy xác bồng bềnh

Lạc loài bể khổ mông mênh

Thân vờ xơ xác lênh đênh chét mòn

Trót nghe bầu bạn ra đây

Lạ thung, lạ thổ, lạ cây, lạ nhà

Đồn Cẩm Phả sơn hà bát ngát

Huyện Hoành Bồ đá cát mênh mông

Ai ơi đứng lại mà trông

Kìa khe nước độc, nọ ông hùm già

Vui gì mà rủ nhau ra

Làm ăn khổ cực nghĩ mà tủi thân.

Câu ca dao "Chưa đi chưa biết Cửa Ông" là lời cảnh báo về sự khắc nghiệt và hiểm nguy của vùng đất xa lạ, nơi cuộc sống khó khăn, thiếu thốn. Bài ca thể hiện nỗ...

Ai đem tôi đến chốn này

Bên kia Vạ Cháy, bên này Bang Gai

Trên đồn có lão quan hai

Cửa Lục tàu đậu một vài chỗ sâu

Thằng Tây mưu mẹo đã lâu

Đóng ba chiếc tầu chạy cạn cả ba

Một chiếc thì chạy Cốt Na

Chiếc vào Hà Sú, chiếc ra Hà Lầm

Mười giờ rưỡi nó kéo còi tầm

Cu li đâu đấy về nằm nghỉ ngơi

Đến mười hai giờ bốn mươi

Síp lê một tiếng muôn người kéo ra

Nó quát một tiếng chẳng là

Nó quát hai tiếng giãn ra hai hàng

Xướng thẻ thì xướng rõ ràng

Nó biên vào sổ đi làm táo tươi

Người thì ghè đá nung vôi

Người thì vác gỗ ai coi cho tường

Người thì xẻ đất đắp đường

Người thì đánh sắt ở trong lò rèn

Người thì xẻ ván đóng xe

Người thì chẻ trúc, chẻ tre đan lồng

Người xe hỏa, người máy rồng

Người biên kho gỗ, người trông kho dầu …

Tác phẩm ca dao này phản ánh chân thực cảnh lao động khổ sai của người dân Việt Nam dưới thời Pháp thuộc. Nó khắc họa một bức tranh sống động về cuộc sống bị bó...

Tài nguyên than mỏ nước Nam

Thằng Tây làm chủ, mình làm cu li

Chỉ vì đói rách phải đi

Đi làm phu mỏ, bỏ quê, bỏ nhà

Một nghìn chín trăm ba ba

Là năm Quý Dậu con gà ác thay

Kể dời phu mỏ Hòn Gai

Công ty than của chủ Tây sang làm

Chiêu phu mộ Khách, An Nam

Cuốc tầng khai mỏ tìm than ra vầy

Than ra ở các mỏ này

Hà Lầm, Hà Sú, mỏ rày Ngã Hai

Bán than cho các nước ngoài

Tàu bè ngoại quốc vãng lai mua dùng

Chủ nhì, chủ nhất, đốc công

Mỗi sở một sếp cai trong sở làm

Làm ra máy trục, máy sàng

Sở Tàu, Than Luyện, Sở Than chung là

Va-gông, than chở về ga

La-ga đặt ở Cốt Na cổng đồn

Để cho xe hỏa dắt dồn

Thật là tiện lợi gọn gàng vân vi

Ăng Lê, Nhật Bản, Hoa Kỳ

Hồng Kông, Thượng Hải đều thì sang mua

Cửa Ông là Cẩm Phả po

Cẩm Phả min, Cọc Sáu, cùng là Mông Dương

Ngoại giao các nước thông thương

Hòn Gai giàu vốn lại cường thịnh ra

Tây Bay coi sổ la voa

Bắc ngay đường sắt cho xe thông hành

Một đường đi thẳng Hà Lầm

Một đường Núi Béo, Cọc Năm đi về …

Tác phẩm dân ca này là lời than thở, tố cáo nỗi khổ của người dân Việt Nam dưới thời Pháp thuộc. Bài ca mô tả cảnh khai thác than tại Hòn Gai, nơi người Việt tr...