Chẳng thà con giết mẹ đi

Chẳng thà con chết từ khi lọt lòng

Ba năm bú mớm ẵm bồng

Mong con khôn lớn đền công sinh thành

Tưởng con tuổi trẻ đầu xanh

Nên cơ nên nghiệp rạng danh cửa nhà

Nghe lời lừa phỉnh dèm pha

Bỏ bê nhà cửa con ra ở đồn

Ở đời cay đắng gì hơn

Theo Tây cướp nước phụ ơn sinh thành

Súng Tây con bắn người mình

Nhẫn tâm đến thế sao đành hỡi con

— Văn học dân gian Việt Nam
Đoạn trích ca dao "Chẳng thà con giết mẹ đi" là lời than trách đầy xót xa của người mẹ trước sự sa ngã, quên ơn bội nghĩa của người con trong hoàn cảnh đất nước lầm than. Lời trách cứ vang lên như một tiếng khóc, một sự giằng xé nội tâm mãnh liệt.

Giải nghĩa câu tục ngữ

Nghĩa đen

Câu ca dao diễn tả sự đau đớn tột cùng của người mẹ khi con cái phản bội lại công ơn sinh thành, dưỡng dục. Thà rằng con cái làm điều tày đình như giết mẹ, hoặc chết yểu ngay từ khi lọt lòng còn hơn là sống để gây ra tội lỗi lớn, làm nhục gia đình và đất nước.

Nghĩa bóng

Đây là lời cảnh tỉnh sâu sắc về đạo lý "uống nước nhớ nguồn", "ăn quả nhớ kẻ trồng cây". Nó lên án mạnh mẽ những kẻ vong ân bội nghĩa, quên đi cội nguồn, sẵn sàng bán rẻ lương tâm vì những lợi ích cá nhân nhỏ nhen, nhất là trong thời kỳ đất nước bị xâm lăng.

Nguồn gốc và Xuất xứ

Đoạn ca dao này ra đời trong bối cảnh lịch sử đầy biến động của Việt Nam cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, khi thực dân Pháp xâm lược và thiết lập ách thống trị. Trong giai đoạn này, nhiều người dân Việt Nam vì nhiều lý do khác nhau (sự dụ dỗ, ép buộc, hoặc vì miếng cơm manh áo) đã trở thành tay sai cho giặc Pháp. Họ tham gia vào các đội lính khố xanh, lính bản xứ, phục vụ cho bộ máy cai trị, đàn áp chính đồng bào mình. Lời ca dao chính là tiếng lòng của những người mẹ, người dân Việt Nam yêu nước, đau đớn xót xa khi nhìn thấy những người con, người em của mình quay lưng lại với quê hương, đất nước, trở thành công cụ cho kẻ thù. Nó phản ánh bi kịch của một dân tộc đang chìm trong khói lửa chiến tranh, nơi tình thân và nghĩa nước bị đặt lên bàn cân, nơi người ta buộc phải lựa chọn giữa sự sống còn và lòng trung hiếu.

Ví dụ sử dụng thực tế

Ví dụ 1
"Khi nói chuyện với một người con hư hỏng, bất hiếu, người ta có thể thốt lên: "Nó không khác gì cái đứa con trong bài ca dao "Chẳng thà con giết mẹ đi" ấy!""
Phân tích: Câu nói này được dùng để thể hiện sự thất vọng, đau đớn tột cùng của người nói trước hành động vô ơn, bội bạc của người con. Nó nhấn mạnh mức độ nghiêm trọng của lỗi lầm, so sánh với sự tàn nhẫn cực đoan trong ca dao để làm nổi bật sự sai trái của hành động.

Kết luận

Đoạn ca dao "Chẳng thà con giết mẹ đi" là một tác phẩm nghệ thuật dân gian đầy sức lay động. Bằng ngôn ngữ mộc mạc, hình ảnh đau xót, nó đã khắc họa thành công bi kịch gia đình và bi kịch dân tộc, đồng thời khẳng định giá trị đạo lý ngàn đời của dân tộc Việt Nam.

Bài viết liên quan

Chưa đi chưa biết Cửa Ông

Đến đây mới biết đường không lối về

Phu sắng-tẩy ai thuê mà đánh

Thẻ than sàng ai bán mà mua

Nhà quê còn có ngày mùa

Đi nhặt, đi mót hột thừa mà ăn

Ở đây rét đói quanh năm

Đi câu cá: rủi, đi săn: hổ vồ

Khu Bò Đái xương khô rải rác

Bến Lò Vôi mấy xác bồng bềnh

Lạc loài bể khổ mông mênh

Thân vờ xơ xác lênh đênh chét mòn

Trót nghe bầu bạn ra đây

Lạ thung, lạ thổ, lạ cây, lạ nhà

Đồn Cẩm Phả sơn hà bát ngát

Huyện Hoành Bồ đá cát mênh mông

Ai ơi đứng lại mà trông

Kìa khe nước độc, nọ ông hùm già

Vui gì mà rủ nhau ra

Làm ăn khổ cực nghĩ mà tủi thân.

Câu ca dao "Chưa đi chưa biết Cửa Ông" là lời cảnh báo về sự khắc nghiệt và hiểm nguy của vùng đất xa lạ, nơi cuộc sống khó khăn, thiếu thốn. Bài ca thể hiện nỗ...

Ai đem tôi đến chốn này

Bên kia Vạ Cháy, bên này Bang Gai

Trên đồn có lão quan hai

Cửa Lục tàu đậu một vài chỗ sâu

Thằng Tây mưu mẹo đã lâu

Đóng ba chiếc tầu chạy cạn cả ba

Một chiếc thì chạy Cốt Na

Chiếc vào Hà Sú, chiếc ra Hà Lầm

Mười giờ rưỡi nó kéo còi tầm

Cu li đâu đấy về nằm nghỉ ngơi

Đến mười hai giờ bốn mươi

Síp lê một tiếng muôn người kéo ra

Nó quát một tiếng chẳng là

Nó quát hai tiếng giãn ra hai hàng

Xướng thẻ thì xướng rõ ràng

Nó biên vào sổ đi làm táo tươi

Người thì ghè đá nung vôi

Người thì vác gỗ ai coi cho tường

Người thì xẻ đất đắp đường

Người thì đánh sắt ở trong lò rèn

Người thì xẻ ván đóng xe

Người thì chẻ trúc, chẻ tre đan lồng

Người xe hỏa, người máy rồng

Người biên kho gỗ, người trông kho dầu …

Tác phẩm ca dao này phản ánh chân thực cảnh lao động khổ sai của người dân Việt Nam dưới thời Pháp thuộc. Nó khắc họa một bức tranh sống động về cuộc sống bị bó...

Tài nguyên than mỏ nước Nam

Thằng Tây làm chủ, mình làm cu li

Chỉ vì đói rách phải đi

Đi làm phu mỏ, bỏ quê, bỏ nhà

Một nghìn chín trăm ba ba

Là năm Quý Dậu con gà ác thay

Kể dời phu mỏ Hòn Gai

Công ty than của chủ Tây sang làm

Chiêu phu mộ Khách, An Nam

Cuốc tầng khai mỏ tìm than ra vầy

Than ra ở các mỏ này

Hà Lầm, Hà Sú, mỏ rày Ngã Hai

Bán than cho các nước ngoài

Tàu bè ngoại quốc vãng lai mua dùng

Chủ nhì, chủ nhất, đốc công

Mỗi sở một sếp cai trong sở làm

Làm ra máy trục, máy sàng

Sở Tàu, Than Luyện, Sở Than chung là

Va-gông, than chở về ga

La-ga đặt ở Cốt Na cổng đồn

Để cho xe hỏa dắt dồn

Thật là tiện lợi gọn gàng vân vi

Ăng Lê, Nhật Bản, Hoa Kỳ

Hồng Kông, Thượng Hải đều thì sang mua

Cửa Ông là Cẩm Phả po

Cẩm Phả min, Cọc Sáu, cùng là Mông Dương

Ngoại giao các nước thông thương

Hòn Gai giàu vốn lại cường thịnh ra

Tây Bay coi sổ la voa

Bắc ngay đường sắt cho xe thông hành

Một đường đi thẳng Hà Lầm

Một đường Núi Béo, Cọc Năm đi về …

Tác phẩm dân ca này là lời than thở, tố cáo nỗi khổ của người dân Việt Nam dưới thời Pháp thuộc. Bài ca mô tả cảnh khai thác than tại Hòn Gai, nơi người Việt tr...