Đồn rằng Cẩm Phả vui thay

Bước ra đến mỏ trông ngay lên tầng

Xin được gánh nước đã mừng

Tôi xin ông sếp ông đừng ghẹo tôi

Ông sếp mới nói một lời:

Nếu không cho ghẹo thì thôi, trở về!

— Văn học dân gian Việt Nam
Câu ca dao về Cẩm Phả phản ánh chân thực đời sống lao động, khát vọng về sự an lành và mong muốn được đối xử công bằng của người dân. Lời ca thể hiện tâm trạng pha lẫn giữa sợ hãi và hy vọng.

Giải nghĩa câu tục ngữ

Nghĩa đen

Người con gái (hoặc người lao động) đến mỏ than Cẩm Phả, xin được làm việc dù là việc nặng nhọc như gánh nước. Cô gái bày tỏ mong muốn được ông sếp (người quản lý) không trêu ghẹo, quấy rầy mình.

Nghĩa bóng

Câu ca dao ẩn dụ cho khát vọng tự do, phẩm giá của người lao động, đặc biệt là phụ nữ trong xã hội xưa. Nó đề cao sự tôn trọng, bình đẳng và phản đối sự xâm phạm, chà đạp lên nhân phẩm.

Nguồn gốc và Xuất xứ

Câu ca dao này ra đời trong bối cảnh khai thác than tại Cẩm Phả, Quảng Ninh, một ngành nghề nặng nhọc và tiềm ẩn nhiều rủi ro, đặc biệt là vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Khi đó, việc tuyển dụng lao động phổ thông, nhất là lao động nữ vào các mỏ than là điều không hiếm. Họ thường phải làm những công việc vất vả như gánh vác, phục vụ, và dễ trở thành đối tượng bị chọc ghẹo, quấy rối bởi những người có chức quyền hơn như cai mỏ, ông sếp. Hoàn cảnh này đã nảy sinh nên những lời ca dao thể hiện tâm tư, nguyện vọng của họ. Việc 'gánh nước' có thể là một công việc nhỏ nhặt trong mỏ, nhưng là cơ hội để người lao động kiếm sống và tránh xa những phiền nhiễu không đáng có. Lời van xin 'ông đừng ghẹo tôi' cho thấy sự bất lực nhưng cũng là lời đấu tranh ngầm cho quyền được tôn trọng của người lao động.

Ví dụ sử dụng thực tế

Ví dụ 1
"Khi gặp một người có ý định trêu chọc mình, tôi có thể nói 'Thôi, tôi xin ông, ông đừng ghẹo tôi!'"
Phân tích: Trong trường hợp này, câu ca dao được sử dụng với ý nghĩa tương tự như nguyên bản, nhằm khéo léo từ chối, bày tỏ sự khó chịu và yêu cầu người kia tôn trọng mình, không tiếp tục hành vi trêu ghẹo.

Kết luận

Câu ca dao là minh chứng cho sức sống mãnh liệt của văn học dân gian trong việc phản ánh hiện thực đời sống. Nó không chỉ là lời than thở mà còn là tiếng nói đòi quyền sống, quyền được tôn trọng của người lao động nghèo.

Bài viết liên quan

Chưa đi chưa biết Cửa Ông

Đến đây mới biết đường không lối về

Phu sắng-tẩy ai thuê mà đánh

Thẻ than sàng ai bán mà mua

Nhà quê còn có ngày mùa

Đi nhặt, đi mót hột thừa mà ăn

Ở đây rét đói quanh năm

Đi câu cá: rủi, đi săn: hổ vồ

Khu Bò Đái xương khô rải rác

Bến Lò Vôi mấy xác bồng bềnh

Lạc loài bể khổ mông mênh

Thân vờ xơ xác lênh đênh chét mòn

Trót nghe bầu bạn ra đây

Lạ thung, lạ thổ, lạ cây, lạ nhà

Đồn Cẩm Phả sơn hà bát ngát

Huyện Hoành Bồ đá cát mênh mông

Ai ơi đứng lại mà trông

Kìa khe nước độc, nọ ông hùm già

Vui gì mà rủ nhau ra

Làm ăn khổ cực nghĩ mà tủi thân.

Câu ca dao "Chưa đi chưa biết Cửa Ông" là lời cảnh báo về sự khắc nghiệt và hiểm nguy của vùng đất xa lạ, nơi cuộc sống khó khăn, thiếu thốn. Bài ca thể hiện nỗ...

Ai đem tôi đến chốn này

Bên kia Vạ Cháy, bên này Bang Gai

Trên đồn có lão quan hai

Cửa Lục tàu đậu một vài chỗ sâu

Thằng Tây mưu mẹo đã lâu

Đóng ba chiếc tầu chạy cạn cả ba

Một chiếc thì chạy Cốt Na

Chiếc vào Hà Sú, chiếc ra Hà Lầm

Mười giờ rưỡi nó kéo còi tầm

Cu li đâu đấy về nằm nghỉ ngơi

Đến mười hai giờ bốn mươi

Síp lê một tiếng muôn người kéo ra

Nó quát một tiếng chẳng là

Nó quát hai tiếng giãn ra hai hàng

Xướng thẻ thì xướng rõ ràng

Nó biên vào sổ đi làm táo tươi

Người thì ghè đá nung vôi

Người thì vác gỗ ai coi cho tường

Người thì xẻ đất đắp đường

Người thì đánh sắt ở trong lò rèn

Người thì xẻ ván đóng xe

Người thì chẻ trúc, chẻ tre đan lồng

Người xe hỏa, người máy rồng

Người biên kho gỗ, người trông kho dầu …

Tác phẩm ca dao này phản ánh chân thực cảnh lao động khổ sai của người dân Việt Nam dưới thời Pháp thuộc. Nó khắc họa một bức tranh sống động về cuộc sống bị bó...

Tài nguyên than mỏ nước Nam

Thằng Tây làm chủ, mình làm cu li

Chỉ vì đói rách phải đi

Đi làm phu mỏ, bỏ quê, bỏ nhà

Một nghìn chín trăm ba ba

Là năm Quý Dậu con gà ác thay

Kể dời phu mỏ Hòn Gai

Công ty than của chủ Tây sang làm

Chiêu phu mộ Khách, An Nam

Cuốc tầng khai mỏ tìm than ra vầy

Than ra ở các mỏ này

Hà Lầm, Hà Sú, mỏ rày Ngã Hai

Bán than cho các nước ngoài

Tàu bè ngoại quốc vãng lai mua dùng

Chủ nhì, chủ nhất, đốc công

Mỗi sở một sếp cai trong sở làm

Làm ra máy trục, máy sàng

Sở Tàu, Than Luyện, Sở Than chung là

Va-gông, than chở về ga

La-ga đặt ở Cốt Na cổng đồn

Để cho xe hỏa dắt dồn

Thật là tiện lợi gọn gàng vân vi

Ăng Lê, Nhật Bản, Hoa Kỳ

Hồng Kông, Thượng Hải đều thì sang mua

Cửa Ông là Cẩm Phả po

Cẩm Phả min, Cọc Sáu, cùng là Mông Dương

Ngoại giao các nước thông thương

Hòn Gai giàu vốn lại cường thịnh ra

Tây Bay coi sổ la voa

Bắc ngay đường sắt cho xe thông hành

Một đường đi thẳng Hà Lầm

Một đường Núi Béo, Cọc Năm đi về …

Tác phẩm dân ca này là lời than thở, tố cáo nỗi khổ của người dân Việt Nam dưới thời Pháp thuộc. Bài ca mô tả cảnh khai thác than tại Hòn Gai, nơi người Việt tr...