Em là con gái tỉnh Nam

Chạy tàu vượt biển ra làm Cửa Ông

Từ khi mới mở Cửa Ông

Đi làm thì ít, đi rông thì nhiều

Chị em cực nhục trăm điều

Trước làm một lượt đã trèo cầu thang

Đặt mình chưa ấm chỗ nằm

Đã lại còi tầm hú gọi ra đi

Dế kêu, suối chảy rầm rì

Bắt cô trói cột não nề ngân nga

Đoàn người hay quỷ hay ma

Tay mai, tay cuốc, sương sa mịt mù

Hai bên gió núi ù ù

Tưởng oan hồn của dân phu hiện về.

— Văn học dân gian Việt Nam
Bài ca dao trên khắc họa một cách chân thực cuộc sống lao động vất vả, gian khổ của người phụ nữ trong xã hội xưa. Nó là tiếng than thở, là lời tố cáo đầy xót xa về thân phận bị áp bức, bóc lột.

Giải nghĩa câu tục ngữ

Nghĩa đen

Hình ảnh cô gái tỉnh Nam đi làm ở Cửa Ông, công việc thì ít mà chơi bời thì nhiều. Cuộc sống chị em cực nhọc, vừa đặt chân đến nơi đã phải làm việc nặng nhọc, từ việc trèo cầu thang đến khi phải đi làm bất cứ lúc nào theo tiếng còi tầm, tiếng dế kêu, tiếng suối chảy.

Nghĩa bóng

Hình ảnh "còi tầm hú gọi ra đi" ẩn dụ cho sự thúc ép, bắt buộc phải làm việc không ngừng nghỉ. Câu ca thể hiện nỗi khổ, sự bất công mà người phụ nữ phải gánh chịu, đồng thời là lời tố cáo xã hội phong kiến hà khắc.

Nguồn gốc và Xuất xứ

Bài ca dao này ra đời trong bối cảnh xã hội Việt Nam phong kiến, đặc biệt là trong các giai đoạn có sự huy động sức lao động lớn từ dân chúng để phục vụ công trình, quân sự hoặc khai thác tài nguyên. Cửa Ông (Quảng Ninh ngày nay) vốn là một vùng đất có hoạt động khai thác khoáng sản, đặc biệt là than đá, từ rất sớm. Việc đi làm "chạy tàu vượt biển" gợi nhớ đến các hoạt động vận chuyển hàng hóa, khoáng sản bằng đường biển, một hoạt động đòi hỏi sức người và có thể có những bất công trong lao động. "Cửa Ông" có thể là tên một địa danh hoặc một khu vực lao động cụ thể. "Chị em cực nhục trăm điều" thể hiện rõ thân phận người phụ nữ lao động, thường bị xem nhẹ và phải gánh chịu nhiều thiệt thòi, khổ cực hơn nam giới. Sự "trèo cầu thang", "chỗ nằm chưa ấm" diễn tả sự vất vả, không có phút nghỉ ngơi. "Còi tầm hú gọi ra đi" là hình ảnh ẩn dụ cho mệnh lệnh, sự thúc ép không ngừng nghỉ trong công việc. "Dế kêu, suối chảy rầm rì" tạo nên không gian lao động nơi núi rừng, hoang vu, càng làm tăng thêm sự cô đơn, vất vả. "Tay mai, tay cuốc, sương sa mịt mù", "gió núi ù ù" là những hình ảnh khắc nghiệt của thiên nhiên, buộc người lao động phải đối mặt. "Tưởng oan hồn của dân phu hiện về" là đỉnh điểm của sự bi thương, gợi lên những câu chuyện về người lao động đã khuất vì công việc, phản ánh sự hy sinh, mất mát to lớn của người dân.

Ví dụ sử dụng thực tế

Ví dụ 1
"Nghe mấy đứa nhỏ than thở đi học thêm mệt quá, tôi bảo: "Chuyện đó nhằm nhò gì, hồi xưa chị em đi làm thuê cực nhục trăm điều!""
Phân tích: Câu này được dùng để so sánh, động viên thế hệ trẻ. Nó nhấn mạnh sự vất vả, khổ cực của người phụ nữ xưa để thấy rằng những khó khăn hiện tại không quá lớn, qua đó khích lệ họ cố gắng hơn.

Kết luận

Bài ca dao là tiếng lòng của những người phụ nữ lao động nghèo khổ, là lời tố cáo xã hội bất công. Giá trị nghệ thuật nằm ở việc sử dụng ngôn ngữ giản dị, hình ảnh chân thực và giàu sức gợi, thể hiện sâu sắc giá trị nhân văn.

Bài viết liên quan

Chưa đi chưa biết Cửa Ông

Đến đây mới biết đường không lối về

Phu sắng-tẩy ai thuê mà đánh

Thẻ than sàng ai bán mà mua

Nhà quê còn có ngày mùa

Đi nhặt, đi mót hột thừa mà ăn

Ở đây rét đói quanh năm

Đi câu cá: rủi, đi săn: hổ vồ

Khu Bò Đái xương khô rải rác

Bến Lò Vôi mấy xác bồng bềnh

Lạc loài bể khổ mông mênh

Thân vờ xơ xác lênh đênh chét mòn

Trót nghe bầu bạn ra đây

Lạ thung, lạ thổ, lạ cây, lạ nhà

Đồn Cẩm Phả sơn hà bát ngát

Huyện Hoành Bồ đá cát mênh mông

Ai ơi đứng lại mà trông

Kìa khe nước độc, nọ ông hùm già

Vui gì mà rủ nhau ra

Làm ăn khổ cực nghĩ mà tủi thân.

Câu ca dao "Chưa đi chưa biết Cửa Ông" là lời cảnh báo về sự khắc nghiệt và hiểm nguy của vùng đất xa lạ, nơi cuộc sống khó khăn, thiếu thốn. Bài ca thể hiện nỗ...

Ai đem tôi đến chốn này

Bên kia Vạ Cháy, bên này Bang Gai

Trên đồn có lão quan hai

Cửa Lục tàu đậu một vài chỗ sâu

Thằng Tây mưu mẹo đã lâu

Đóng ba chiếc tầu chạy cạn cả ba

Một chiếc thì chạy Cốt Na

Chiếc vào Hà Sú, chiếc ra Hà Lầm

Mười giờ rưỡi nó kéo còi tầm

Cu li đâu đấy về nằm nghỉ ngơi

Đến mười hai giờ bốn mươi

Síp lê một tiếng muôn người kéo ra

Nó quát một tiếng chẳng là

Nó quát hai tiếng giãn ra hai hàng

Xướng thẻ thì xướng rõ ràng

Nó biên vào sổ đi làm táo tươi

Người thì ghè đá nung vôi

Người thì vác gỗ ai coi cho tường

Người thì xẻ đất đắp đường

Người thì đánh sắt ở trong lò rèn

Người thì xẻ ván đóng xe

Người thì chẻ trúc, chẻ tre đan lồng

Người xe hỏa, người máy rồng

Người biên kho gỗ, người trông kho dầu …

Tác phẩm ca dao này phản ánh chân thực cảnh lao động khổ sai của người dân Việt Nam dưới thời Pháp thuộc. Nó khắc họa một bức tranh sống động về cuộc sống bị bó...

Tài nguyên than mỏ nước Nam

Thằng Tây làm chủ, mình làm cu li

Chỉ vì đói rách phải đi

Đi làm phu mỏ, bỏ quê, bỏ nhà

Một nghìn chín trăm ba ba

Là năm Quý Dậu con gà ác thay

Kể dời phu mỏ Hòn Gai

Công ty than của chủ Tây sang làm

Chiêu phu mộ Khách, An Nam

Cuốc tầng khai mỏ tìm than ra vầy

Than ra ở các mỏ này

Hà Lầm, Hà Sú, mỏ rày Ngã Hai

Bán than cho các nước ngoài

Tàu bè ngoại quốc vãng lai mua dùng

Chủ nhì, chủ nhất, đốc công

Mỗi sở một sếp cai trong sở làm

Làm ra máy trục, máy sàng

Sở Tàu, Than Luyện, Sở Than chung là

Va-gông, than chở về ga

La-ga đặt ở Cốt Na cổng đồn

Để cho xe hỏa dắt dồn

Thật là tiện lợi gọn gàng vân vi

Ăng Lê, Nhật Bản, Hoa Kỳ

Hồng Kông, Thượng Hải đều thì sang mua

Cửa Ông là Cẩm Phả po

Cẩm Phả min, Cọc Sáu, cùng là Mông Dương

Ngoại giao các nước thông thương

Hòn Gai giàu vốn lại cường thịnh ra

Tây Bay coi sổ la voa

Bắc ngay đường sắt cho xe thông hành

Một đường đi thẳng Hà Lầm

Một đường Núi Béo, Cọc Năm đi về …

Tác phẩm dân ca này là lời than thở, tố cáo nỗi khổ của người dân Việt Nam dưới thời Pháp thuộc. Bài ca mô tả cảnh khai thác than tại Hòn Gai, nơi người Việt tr...