Lầm than khổ cực thế này,

Xúc than, cuốc đất suốt ngày lọ lem.

— Văn học dân gian Việt Nam
Hai câu ca dao "Lầm than khổ cực thế này, / Xúc than, cuốc đất suốt ngày lọ lem." khắc họa chân thực cuộc sống lầm than, vất vả của người lao động xưa. Lời ca giản dị nhưng chứa đựng nỗi niềm sâu sắc về gánh nặng mưu sinh.

Giải nghĩa câu tục ngữ

Nghĩa đen

Câu ca diễn tả hình ảnh người lao động chân tay bùn đất, cả ngày quần quật làm việc nặng nhọc với công việc xúc than, cuốc đất. Từ "lọ lem" chỉ dáng vẻ lấm lem, lem luốc vì bụi than, đất cát bám đầy người.

Nghĩa bóng

Đây là lời than thở về cuộc sống nghèo khổ, bị vùi dập bởi lao động cực nhọc, không có lối thoát. Câu ca thể hiện sự đồng cảm, chia sẻ với những kiếp đời lam lũ, gợi lên ước mong về một cuộc sống tốt đẹp hơn.

Nguồn gốc và Xuất xứ

Câu ca dao này ra đời trong bối cảnh xã hội Việt Nam xưa, khi nền nông nghiệp lúa nước còn lạc hậu, đời sống nhân dân vô cùng cơ cực. Công việc đồng áng như xúc than (chế biến nông sản, đốt lò gạch, nung vôi) hay cuốc đất (cày bừa, làm đất) là những lao động phổ biến, đòi hỏi sức lực và thường xuyên tiếp xúc với bụi bẩn, bùn đất. Sự "lọ lem" không chỉ là hình ảnh bên ngoài mà còn phản ánh sự nhọc nhằn, lam lũ, gần như bị che lấp bởi gánh nặng mưu sinh. Nó nói lên nỗi khổ chung của tầng lớp nông dân, người lao động nghèo, những người quanh năm "bán mặt cho đất, bán lưng cho trời" mà cuộc sống vẫn thiếu thốn, lầm than. Câu ca được hình thành từ kinh nghiệm dân gian, là tiếng lòng của nhân dân lao động nghèo được lưu truyền qua nhiều thế hệ.

Ví dụ sử dụng thực tế

Ví dụ 1
"Nghe nó than thở, tôi lại nhớ đến câu "Lầm than khổ cực thế này, / Xúc than, cuốc đất suốt ngày lọ lem.""
Phân tích: Người nói dùng câu ca dao để so sánh, diễn tả sự vất vả, nghèo khó của một người nào đó, gợi lên sự đồng cảm và thương xót. Ngữ cảnh là khi đang trò chuyện về hoàn cảnh của một người.

Kết luận

Câu ca dao là minh chứng cho sức sống mãnh liệt của ca dao dân ca trong việc phản ánh hiện thực đời sống. Bằng ngôn ngữ chân thực, hình ảnh giản dị, tác phẩm đã chạm đến trái tim người nghe, gợi lên sự xót xa và trân trọng đối với những kiếp người lao động.

Bài viết liên quan

Chưa đi chưa biết Cửa Ông

Đến đây mới biết đường không lối về

Phu sắng-tẩy ai thuê mà đánh

Thẻ than sàng ai bán mà mua

Nhà quê còn có ngày mùa

Đi nhặt, đi mót hột thừa mà ăn

Ở đây rét đói quanh năm

Đi câu cá: rủi, đi săn: hổ vồ

Khu Bò Đái xương khô rải rác

Bến Lò Vôi mấy xác bồng bềnh

Lạc loài bể khổ mông mênh

Thân vờ xơ xác lênh đênh chét mòn

Trót nghe bầu bạn ra đây

Lạ thung, lạ thổ, lạ cây, lạ nhà

Đồn Cẩm Phả sơn hà bát ngát

Huyện Hoành Bồ đá cát mênh mông

Ai ơi đứng lại mà trông

Kìa khe nước độc, nọ ông hùm già

Vui gì mà rủ nhau ra

Làm ăn khổ cực nghĩ mà tủi thân.

Câu ca dao "Chưa đi chưa biết Cửa Ông" là lời cảnh báo về sự khắc nghiệt và hiểm nguy của vùng đất xa lạ, nơi cuộc sống khó khăn, thiếu thốn. Bài ca thể hiện nỗ...

Ai đem tôi đến chốn này

Bên kia Vạ Cháy, bên này Bang Gai

Trên đồn có lão quan hai

Cửa Lục tàu đậu một vài chỗ sâu

Thằng Tây mưu mẹo đã lâu

Đóng ba chiếc tầu chạy cạn cả ba

Một chiếc thì chạy Cốt Na

Chiếc vào Hà Sú, chiếc ra Hà Lầm

Mười giờ rưỡi nó kéo còi tầm

Cu li đâu đấy về nằm nghỉ ngơi

Đến mười hai giờ bốn mươi

Síp lê một tiếng muôn người kéo ra

Nó quát một tiếng chẳng là

Nó quát hai tiếng giãn ra hai hàng

Xướng thẻ thì xướng rõ ràng

Nó biên vào sổ đi làm táo tươi

Người thì ghè đá nung vôi

Người thì vác gỗ ai coi cho tường

Người thì xẻ đất đắp đường

Người thì đánh sắt ở trong lò rèn

Người thì xẻ ván đóng xe

Người thì chẻ trúc, chẻ tre đan lồng

Người xe hỏa, người máy rồng

Người biên kho gỗ, người trông kho dầu …

Tác phẩm ca dao này phản ánh chân thực cảnh lao động khổ sai của người dân Việt Nam dưới thời Pháp thuộc. Nó khắc họa một bức tranh sống động về cuộc sống bị bó...

Tài nguyên than mỏ nước Nam

Thằng Tây làm chủ, mình làm cu li

Chỉ vì đói rách phải đi

Đi làm phu mỏ, bỏ quê, bỏ nhà

Một nghìn chín trăm ba ba

Là năm Quý Dậu con gà ác thay

Kể dời phu mỏ Hòn Gai

Công ty than của chủ Tây sang làm

Chiêu phu mộ Khách, An Nam

Cuốc tầng khai mỏ tìm than ra vầy

Than ra ở các mỏ này

Hà Lầm, Hà Sú, mỏ rày Ngã Hai

Bán than cho các nước ngoài

Tàu bè ngoại quốc vãng lai mua dùng

Chủ nhì, chủ nhất, đốc công

Mỗi sở một sếp cai trong sở làm

Làm ra máy trục, máy sàng

Sở Tàu, Than Luyện, Sở Than chung là

Va-gông, than chở về ga

La-ga đặt ở Cốt Na cổng đồn

Để cho xe hỏa dắt dồn

Thật là tiện lợi gọn gàng vân vi

Ăng Lê, Nhật Bản, Hoa Kỳ

Hồng Kông, Thượng Hải đều thì sang mua

Cửa Ông là Cẩm Phả po

Cẩm Phả min, Cọc Sáu, cùng là Mông Dương

Ngoại giao các nước thông thương

Hòn Gai giàu vốn lại cường thịnh ra

Tây Bay coi sổ la voa

Bắc ngay đường sắt cho xe thông hành

Một đường đi thẳng Hà Lầm

Một đường Núi Béo, Cọc Năm đi về …

Tác phẩm dân ca này là lời than thở, tố cáo nỗi khổ của người dân Việt Nam dưới thời Pháp thuộc. Bài ca mô tả cảnh khai thác than tại Hòn Gai, nơi người Việt tr...