Nghỉ việc không gạo bỏ nồi

Ốm no bò dậy, không người chăm nom

Sáng ngày vác cuốc trèo non

Tối về mới biết mình còn sống đây

Lầm than cực khổ thế này

Xúc than cuốc đất, tối ngày lọ lem

— Văn học dân gian Việt Nam
Đoạn ca dao trên khắc họa chân thực cuộc sống lam lũ, nhọc nhằn của người nông dân Việt Nam xưa. Qua đó, thể hiện rõ nét sự vất vả, bám trụ với nghề nông để sinh tồn.

Giải nghĩa câu tục ngữ

Nghĩa đen

Câu thơ miêu tả hình ảnh người nông dân sau một ngày lao động cực nhọc, từ sáng sớm đến tối mịt mới trở về nhà. Dù mệt mỏi, ốm đau nhưng vẫn phải cố gắng gượng dậy để làm việc, lo toan cho cuộc sống.

Nghĩa bóng

Đoạn ca dao thể hiện ý chí kiên cường, sự bám trụ vào nghề nông để duy trì cuộc sống dù vô cùng khó khăn. Nó ngầm ca ngợi sức chịu đựng phi thường và tinh thần lao động bền bỉ của người nông dân Việt Nam.

Nguồn gốc và Xuất xứ

Đoạn ca dao này phản ánh sâu sắc thực trạng đời sống nông nghiệp Việt Nam thời phong kiến, đặc biệt là trong các giai đoạn kinh tế khó khăn, mất mùa hoặc khi người nông dân bị áp bức, bóc lột. Cuộc sống "nghỉ việc không gạo bỏ nồi" ám chỉ sự thiếu thốn, cái đói luôn rình rập. "Ốm no bò dậy" là cách nói cường điệu hóa sự kiên cường, bất chấp bệnh tật vẫn phải lao động. Việc "vác cuốc trèo non" và "xúc than cuốc đất" cho thấy tính chất lao động nặng nhọc, vất vả, thường xuyên phải đối mặt với thiên nhiên khắc nghiệt. "Tối ngày lọ lem" không chỉ tả thực trạng quần áo lấm lem vì lao động mà còn ẩn dụ cho cuộc đời cơ cực, tối tăm, thiếu ánh sáng của người nông dân. Hoàn cảnh ra đời của những câu ca dao như thế này thường gắn liền với những mùa vụ thất bát, sưu thuế nặng nề, hoặc những biến cố xã hội khiến đời sống người dân trở nên cùng quẫn.

Ví dụ sử dụng thực tế

Ví dụ 1
"Khi thấy con cái lười biếng, anh hai tôi thường hay nói: "Tao làm quần quật cả ngày, còn mày thì cứ đòi nghỉ việc không gạo bỏ nồi là sao?""
Phân tích: Người bố dùng câu ca dao để trách mắng con trai lười biếng, không chịu làm lụng. Ngụ ý là nếu con không làm thì sẽ không có ăn, cuộc sống sẽ khó khăn.

Kết luận

Đoạn ca dao là minh chứng cho nghệ thuật miêu tả hiện thực sắc sảo, giàu cảm xúc của ca dao Việt Nam. Nó để lại bài học về sự trân trọng lao động, lòng kiên cường và tình yêu cuộc sống.

Bài viết liên quan

Chưa đi chưa biết Cửa Ông

Đến đây mới biết đường không lối về

Phu sắng-tẩy ai thuê mà đánh

Thẻ than sàng ai bán mà mua

Nhà quê còn có ngày mùa

Đi nhặt, đi mót hột thừa mà ăn

Ở đây rét đói quanh năm

Đi câu cá: rủi, đi săn: hổ vồ

Khu Bò Đái xương khô rải rác

Bến Lò Vôi mấy xác bồng bềnh

Lạc loài bể khổ mông mênh

Thân vờ xơ xác lênh đênh chét mòn

Trót nghe bầu bạn ra đây

Lạ thung, lạ thổ, lạ cây, lạ nhà

Đồn Cẩm Phả sơn hà bát ngát

Huyện Hoành Bồ đá cát mênh mông

Ai ơi đứng lại mà trông

Kìa khe nước độc, nọ ông hùm già

Vui gì mà rủ nhau ra

Làm ăn khổ cực nghĩ mà tủi thân.

Câu ca dao "Chưa đi chưa biết Cửa Ông" là lời cảnh báo về sự khắc nghiệt và hiểm nguy của vùng đất xa lạ, nơi cuộc sống khó khăn, thiếu thốn. Bài ca thể hiện nỗ...

Ai đem tôi đến chốn này

Bên kia Vạ Cháy, bên này Bang Gai

Trên đồn có lão quan hai

Cửa Lục tàu đậu một vài chỗ sâu

Thằng Tây mưu mẹo đã lâu

Đóng ba chiếc tầu chạy cạn cả ba

Một chiếc thì chạy Cốt Na

Chiếc vào Hà Sú, chiếc ra Hà Lầm

Mười giờ rưỡi nó kéo còi tầm

Cu li đâu đấy về nằm nghỉ ngơi

Đến mười hai giờ bốn mươi

Síp lê một tiếng muôn người kéo ra

Nó quát một tiếng chẳng là

Nó quát hai tiếng giãn ra hai hàng

Xướng thẻ thì xướng rõ ràng

Nó biên vào sổ đi làm táo tươi

Người thì ghè đá nung vôi

Người thì vác gỗ ai coi cho tường

Người thì xẻ đất đắp đường

Người thì đánh sắt ở trong lò rèn

Người thì xẻ ván đóng xe

Người thì chẻ trúc, chẻ tre đan lồng

Người xe hỏa, người máy rồng

Người biên kho gỗ, người trông kho dầu …

Tác phẩm ca dao này phản ánh chân thực cảnh lao động khổ sai của người dân Việt Nam dưới thời Pháp thuộc. Nó khắc họa một bức tranh sống động về cuộc sống bị bó...

Tài nguyên than mỏ nước Nam

Thằng Tây làm chủ, mình làm cu li

Chỉ vì đói rách phải đi

Đi làm phu mỏ, bỏ quê, bỏ nhà

Một nghìn chín trăm ba ba

Là năm Quý Dậu con gà ác thay

Kể dời phu mỏ Hòn Gai

Công ty than của chủ Tây sang làm

Chiêu phu mộ Khách, An Nam

Cuốc tầng khai mỏ tìm than ra vầy

Than ra ở các mỏ này

Hà Lầm, Hà Sú, mỏ rày Ngã Hai

Bán than cho các nước ngoài

Tàu bè ngoại quốc vãng lai mua dùng

Chủ nhì, chủ nhất, đốc công

Mỗi sở một sếp cai trong sở làm

Làm ra máy trục, máy sàng

Sở Tàu, Than Luyện, Sở Than chung là

Va-gông, than chở về ga

La-ga đặt ở Cốt Na cổng đồn

Để cho xe hỏa dắt dồn

Thật là tiện lợi gọn gàng vân vi

Ăng Lê, Nhật Bản, Hoa Kỳ

Hồng Kông, Thượng Hải đều thì sang mua

Cửa Ông là Cẩm Phả po

Cẩm Phả min, Cọc Sáu, cùng là Mông Dương

Ngoại giao các nước thông thương

Hòn Gai giàu vốn lại cường thịnh ra

Tây Bay coi sổ la voa

Bắc ngay đường sắt cho xe thông hành

Một đường đi thẳng Hà Lầm

Một đường Núi Béo, Cọc Năm đi về …

Tác phẩm dân ca này là lời than thở, tố cáo nỗi khổ của người dân Việt Nam dưới thời Pháp thuộc. Bài ca mô tả cảnh khai thác than tại Hòn Gai, nơi người Việt tr...