Ông hương, ông lí bên lương

Ông trùm bên giáo, ai thương tôi nào

Công điền cấp được một sào

Nửa đắp đường cái, nửa đào ao chung

Bốn mùa trống giục thùng thùng

Quan bắt nộp thuế lạ lùng tôi chưa

— Văn học dân gian Việt Nam
Câu ca dao "Ông hương, ông lí bên lương... lạ lùng tôi chưa" là lời than thở của người nông dân về gánh nặng thuế khóa dưới thời phong kiến. Bài ca thể hiện nỗi khổ cực, sự bế tắc của tầng lớp lao động trong xã hội cũ.

Giải nghĩa câu tục ngữ

Nghĩa đen

Câu ca dao mô tả các chức sắc làng xã như ông hương, ông lí, ông trùm, cùng với quan lại, đang thu thuế. Họ bắt nông dân phải đóng góp một sào ruộng, một nửa để đắp đường, một nửa để đào ao chung, và còn phải nộp thuế lạ lùng, bất hợp lý.

Nghĩa bóng

Hình ảnh "trống giục thùng thùng" tượng trưng cho sự thúc ép, dồn dập của việc thu thuế. Câu ca thể hiện sự bất mãn, oán giận của người dân trước sự áp bức, bóc lột tàn nhẫn của chính quyền phong kiến, đồng thời phản ánh mong muốn về một cuộc sống no đủ, bớt khổ cực.

Nguồn gốc và Xuất xứ

Câu ca dao này ra đời trong bối cảnh xã hội Việt Nam thời phong kiến, đặc biệt là vào những giai đoạn kinh tế khó khăn, triều đình tăng cường các khoản thu thuế để phục vụ nhu cầu chi tiêu, chiến tranh. Hệ thống quan lại, lý trưởng, hương hào ở làng xã lúc bấy giờ có vai trò thu thuế trực tiếp từ người dân. Họ thường lợi dụng chức quyền để vơ vét, bóc lột, làm cho đời sống nông dân vốn đã khổ cực càng thêm lầm than. Việc phân chia ruộng đất công hoặc huy động sức dân đóng góp ("nửa đắp đường cái, nửa đào ao chung") là những hình thức lao dịch phổ biến. Tiếng trống "thùng thùng" không chỉ là âm thanh báo hiệu giờ giấc mà còn gợi lên sự đe dọa, thúc ép, tạo áp lực tâm lý nặng nề cho người nông dân khi phải đối mặt với việc nộp những khoản thuế vô lý, đôi khi là "thuế lạ lùng" mà họ không thể hiểu hết lý do.

Ví dụ sử dụng thực tế

Ví dụ 1
"Khi bàn về chuyện thu phí vô lý, ai đó có thể buông một câu: "Đúng là ông hương, ông lí bên lương, ai thương tôi nào?""
Phân tích: Câu này được dùng để ví von, so sánh với những tình huống người dân cảm thấy bị thu các khoản phí, lệ không rõ ràng, vô lý, giống như nỗi khổ bị áp bức thuế má trong quá khứ, thể hiện sự bất lực và phẫn nộ.

Kết luận

Bài ca dao là tiếng nói chân thực, thống thiết về nỗi khổ của người nông dân trong xã hội cũ. Nó thể hiện giá trị hiện thực sâu sắc, lên án sự bất công và khát vọng về một cuộc sống công bằng, ấm no hơn.

Bài viết liên quan

Chưa đi chưa biết Cửa Ông

Đến đây mới biết đường không lối về

Phu sắng-tẩy ai thuê mà đánh

Thẻ than sàng ai bán mà mua

Nhà quê còn có ngày mùa

Đi nhặt, đi mót hột thừa mà ăn

Ở đây rét đói quanh năm

Đi câu cá: rủi, đi săn: hổ vồ

Khu Bò Đái xương khô rải rác

Bến Lò Vôi mấy xác bồng bềnh

Lạc loài bể khổ mông mênh

Thân vờ xơ xác lênh đênh chét mòn

Trót nghe bầu bạn ra đây

Lạ thung, lạ thổ, lạ cây, lạ nhà

Đồn Cẩm Phả sơn hà bát ngát

Huyện Hoành Bồ đá cát mênh mông

Ai ơi đứng lại mà trông

Kìa khe nước độc, nọ ông hùm già

Vui gì mà rủ nhau ra

Làm ăn khổ cực nghĩ mà tủi thân.

Câu ca dao "Chưa đi chưa biết Cửa Ông" là lời cảnh báo về sự khắc nghiệt và hiểm nguy của vùng đất xa lạ, nơi cuộc sống khó khăn, thiếu thốn. Bài ca thể hiện nỗ...

Ai đem tôi đến chốn này

Bên kia Vạ Cháy, bên này Bang Gai

Trên đồn có lão quan hai

Cửa Lục tàu đậu một vài chỗ sâu

Thằng Tây mưu mẹo đã lâu

Đóng ba chiếc tầu chạy cạn cả ba

Một chiếc thì chạy Cốt Na

Chiếc vào Hà Sú, chiếc ra Hà Lầm

Mười giờ rưỡi nó kéo còi tầm

Cu li đâu đấy về nằm nghỉ ngơi

Đến mười hai giờ bốn mươi

Síp lê một tiếng muôn người kéo ra

Nó quát một tiếng chẳng là

Nó quát hai tiếng giãn ra hai hàng

Xướng thẻ thì xướng rõ ràng

Nó biên vào sổ đi làm táo tươi

Người thì ghè đá nung vôi

Người thì vác gỗ ai coi cho tường

Người thì xẻ đất đắp đường

Người thì đánh sắt ở trong lò rèn

Người thì xẻ ván đóng xe

Người thì chẻ trúc, chẻ tre đan lồng

Người xe hỏa, người máy rồng

Người biên kho gỗ, người trông kho dầu …

Tác phẩm ca dao này phản ánh chân thực cảnh lao động khổ sai của người dân Việt Nam dưới thời Pháp thuộc. Nó khắc họa một bức tranh sống động về cuộc sống bị bó...

Tài nguyên than mỏ nước Nam

Thằng Tây làm chủ, mình làm cu li

Chỉ vì đói rách phải đi

Đi làm phu mỏ, bỏ quê, bỏ nhà

Một nghìn chín trăm ba ba

Là năm Quý Dậu con gà ác thay

Kể dời phu mỏ Hòn Gai

Công ty than của chủ Tây sang làm

Chiêu phu mộ Khách, An Nam

Cuốc tầng khai mỏ tìm than ra vầy

Than ra ở các mỏ này

Hà Lầm, Hà Sú, mỏ rày Ngã Hai

Bán than cho các nước ngoài

Tàu bè ngoại quốc vãng lai mua dùng

Chủ nhì, chủ nhất, đốc công

Mỗi sở một sếp cai trong sở làm

Làm ra máy trục, máy sàng

Sở Tàu, Than Luyện, Sở Than chung là

Va-gông, than chở về ga

La-ga đặt ở Cốt Na cổng đồn

Để cho xe hỏa dắt dồn

Thật là tiện lợi gọn gàng vân vi

Ăng Lê, Nhật Bản, Hoa Kỳ

Hồng Kông, Thượng Hải đều thì sang mua

Cửa Ông là Cẩm Phả po

Cẩm Phả min, Cọc Sáu, cùng là Mông Dương

Ngoại giao các nước thông thương

Hòn Gai giàu vốn lại cường thịnh ra

Tây Bay coi sổ la voa

Bắc ngay đường sắt cho xe thông hành

Một đường đi thẳng Hà Lầm

Một đường Núi Béo, Cọc Năm đi về …

Tác phẩm dân ca này là lời than thở, tố cáo nỗi khổ của người dân Việt Nam dưới thời Pháp thuộc. Bài ca mô tả cảnh khai thác than tại Hòn Gai, nơi người Việt tr...