Tai nghe mõ réo đi xâu

Lưng đưng hai vợ, gạo đâu vô nừng?

— Văn học dân gian Việt Nam
Câu ca dao "Tai nghe mõ réo đi xâu" mô tả hình ảnh quen thuộc trong đời sống nông thôn xưa, nơi tiếng mõ vang lên báo hiệu giờ làm việc. Hình ảnh này gắn liền với tục lệ đi làm đồng tập thể, tạo nên nét văn hóa độc đáo.

Giải nghĩa câu tục ngữ

Nghĩa đen

Tiếng mõ vang lên, báo hiệu mọi người phải đi làm việc đồng áng, cấy lúa. "Đi xâu" là đi theo từng tốp, từng hàng để lao động sản xuất, thường là công việc cấy lúa hoặc gặt hái.

Nghĩa bóng

Câu ca dao mang ý nghĩa phê phán những người lười biếng, không chịu làm lụng. "Tai nghe mõ réo" nhưng lại "gạo đâu vô nừng" thể hiện sự không đóng góp, ăn bám vào sức lao động của người khác, gây bức xúc trong cộng đồng.

Nguồn gốc và Xuất xứ

Câu ca dao này ra đời trong bối cảnh đời sống nông nghiệp lúa nước truyền thống của Việt Nam, nơi lao động tập thể, cùng làm cùng hưởng hoặc cùng làm cùng chịu là hình thức phổ biến. Tiếng mõ là phương tiện báo hiệu giờ giấc quen thuộc, đặc biệt là trong các công việc đồng áng đòi hỏi sự tập trung và phối hợp. "Đi xâu" ám chỉ việc đi làm theo từng hàng, từng tốp trong quá trình cấy lúa, một công đoạn quan trọng và vất vả. Việc phân công lao động, sự đóng góp của mỗi cá nhân đều ảnh hưởng trực tiếp đến thành quả chung của cả làng. Câu ca dao phản ánh thực tiễn sinh hoạt đó, lên án những cá nhân không làm tròn trách nhiệm, chỉ hưởng thụ thành quả lao động của tập thể, gây bất công và mất đoàn kết trong cộng đồng làng xã xưa.

Ví dụ sử dụng thực tế

Ví dụ 1
"Nghe tiếng mõ vang lên, mọi người lũ lượt ra đồng, chỉ có anh Tư vẫn thản nhiên ngồi chơi, đúng là tai nghe mõ réo đi xâu, gạo đâu vô nừng!"
Phân tích: Câu này được dùng để phê phán thái độ lười biếng, không tham gia lao động của anh Tư. Người nói ví von anh ta giống như người chỉ nghe tiếng mõ mà không làm gì, cuối cùng không có thành quả lao động cho bản thân.

Kết luận

Câu ca dao là lời nhắc nhở về tinh thần lao động và trách nhiệm cá nhân. Nó đề cao giá trị của sự cống hiến, phê phán thói lười biếng, ỷ lại, góp phần bảo tồn những nét đẹp văn hóa về lao động và cộng đồng.

Bài viết liên quan

Chưa đi chưa biết Cửa Ông

Đến đây mới biết đường không lối về

Phu sắng-tẩy ai thuê mà đánh

Thẻ than sàng ai bán mà mua

Nhà quê còn có ngày mùa

Đi nhặt, đi mót hột thừa mà ăn

Ở đây rét đói quanh năm

Đi câu cá: rủi, đi săn: hổ vồ

Khu Bò Đái xương khô rải rác

Bến Lò Vôi mấy xác bồng bềnh

Lạc loài bể khổ mông mênh

Thân vờ xơ xác lênh đênh chét mòn

Trót nghe bầu bạn ra đây

Lạ thung, lạ thổ, lạ cây, lạ nhà

Đồn Cẩm Phả sơn hà bát ngát

Huyện Hoành Bồ đá cát mênh mông

Ai ơi đứng lại mà trông

Kìa khe nước độc, nọ ông hùm già

Vui gì mà rủ nhau ra

Làm ăn khổ cực nghĩ mà tủi thân.

Câu ca dao "Chưa đi chưa biết Cửa Ông" là lời cảnh báo về sự khắc nghiệt và hiểm nguy của vùng đất xa lạ, nơi cuộc sống khó khăn, thiếu thốn. Bài ca thể hiện nỗ...

Ai đem tôi đến chốn này

Bên kia Vạ Cháy, bên này Bang Gai

Trên đồn có lão quan hai

Cửa Lục tàu đậu một vài chỗ sâu

Thằng Tây mưu mẹo đã lâu

Đóng ba chiếc tầu chạy cạn cả ba

Một chiếc thì chạy Cốt Na

Chiếc vào Hà Sú, chiếc ra Hà Lầm

Mười giờ rưỡi nó kéo còi tầm

Cu li đâu đấy về nằm nghỉ ngơi

Đến mười hai giờ bốn mươi

Síp lê một tiếng muôn người kéo ra

Nó quát một tiếng chẳng là

Nó quát hai tiếng giãn ra hai hàng

Xướng thẻ thì xướng rõ ràng

Nó biên vào sổ đi làm táo tươi

Người thì ghè đá nung vôi

Người thì vác gỗ ai coi cho tường

Người thì xẻ đất đắp đường

Người thì đánh sắt ở trong lò rèn

Người thì xẻ ván đóng xe

Người thì chẻ trúc, chẻ tre đan lồng

Người xe hỏa, người máy rồng

Người biên kho gỗ, người trông kho dầu …

Tác phẩm ca dao này phản ánh chân thực cảnh lao động khổ sai của người dân Việt Nam dưới thời Pháp thuộc. Nó khắc họa một bức tranh sống động về cuộc sống bị bó...

Tài nguyên than mỏ nước Nam

Thằng Tây làm chủ, mình làm cu li

Chỉ vì đói rách phải đi

Đi làm phu mỏ, bỏ quê, bỏ nhà

Một nghìn chín trăm ba ba

Là năm Quý Dậu con gà ác thay

Kể dời phu mỏ Hòn Gai

Công ty than của chủ Tây sang làm

Chiêu phu mộ Khách, An Nam

Cuốc tầng khai mỏ tìm than ra vầy

Than ra ở các mỏ này

Hà Lầm, Hà Sú, mỏ rày Ngã Hai

Bán than cho các nước ngoài

Tàu bè ngoại quốc vãng lai mua dùng

Chủ nhì, chủ nhất, đốc công

Mỗi sở một sếp cai trong sở làm

Làm ra máy trục, máy sàng

Sở Tàu, Than Luyện, Sở Than chung là

Va-gông, than chở về ga

La-ga đặt ở Cốt Na cổng đồn

Để cho xe hỏa dắt dồn

Thật là tiện lợi gọn gàng vân vi

Ăng Lê, Nhật Bản, Hoa Kỳ

Hồng Kông, Thượng Hải đều thì sang mua

Cửa Ông là Cẩm Phả po

Cẩm Phả min, Cọc Sáu, cùng là Mông Dương

Ngoại giao các nước thông thương

Hòn Gai giàu vốn lại cường thịnh ra

Tây Bay coi sổ la voa

Bắc ngay đường sắt cho xe thông hành

Một đường đi thẳng Hà Lầm

Một đường Núi Béo, Cọc Năm đi về …

Tác phẩm dân ca này là lời than thở, tố cáo nỗi khổ của người dân Việt Nam dưới thời Pháp thuộc. Bài ca mô tả cảnh khai thác than tại Hòn Gai, nơi người Việt tr...