Trông lên cửu bệ trùng trùng

Những là gấm vóc tía hồng nguy nga

Nhìn về đồng ruộng bao la

Cùng đinh đóng khố phơi da mình trần

— Văn học dân gian Việt Nam
Đoạn ca dao "Trông lên cửu bệ..." là lời của người nông dân nghèo khi nhìn lên nhà giàu. Câu ca dao khắc họa rõ nét sự đối lập gay gắt về vật chất giữa hai tầng lớp trong xã hội xưa.

Giải nghĩa câu tục ngữ

Nghĩa đen

"Cửu bệ trùng trùng" chỉ những tòa nhà cao, nhiều tầng, nguy nga, tráng lệ của giới quyền quý. "Gấm vóc tía hồng" là chỉ những thứ xa hoa, lộng lẫy. "Đồng ruộng bao la" là cuộc sống gắn bó với đất đai của người nông dân. "Cùng đinh đóng khố phơi da mình trần" miêu tả sự nghèo khổ, lam lũ của người lao động.

Nghĩa bóng

Câu ca dao thể hiện sự bất công xã hội, lòng thương cảm của nhân dân đối với người nghèo khổ. Đồng thời, nó cũng là lời tố cáo gián tiếp tầng lớp giàu có bóc lột sức lao động của người dân.

Nguồn gốc và Xuất xứ

Câu ca dao này ra đời trong bối cảnh xã hội Việt Nam phong kiến, khi sự phân hóa giàu nghèo diễn ra gay gắt. Tầng lớp địa chủ, quan lại sống xa hoa trên sự cực nhọc của người nông dân. Họ xây nhà cao cửa rộng, mặc lụa là gấm vóc, còn người nông dân chỉ biết làm lụng vất vả, quần áo không đủ che thân. Hình ảnh "cửu bệ trùng trùng" và "gấm vóc tía hồng" là biểu tượng cho sự giàu sang, quyền lực của giới thượng lưu, trong khi "đồng ruộng bao la" và "cùng đinh đóng khố phơi da mình trần" lại khắc họa chân thực cuộc sống lam lũ, nghèo đói của người nông dân Việt Nam xưa, những người trực tiếp làm ra của cải vật chất nhưng lại không được hưởng thành quả lao động của mình. Nó phản ánh một thực trạng xã hội đã tồn tại dai dẳng qua nhiều thế kỷ.

Ví dụ sử dụng thực tế

Ví dụ 1
"Khi nói về sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội, người ta thường trích dẫn câu ca dao này."
Phân tích: Câu ca dao được sử dụng để minh họa cho sự tương phản giàu nghèo, nhấn mạnh tình cảnh khốn khó của người lao động so với sự xa hoa của người giàu có, thể hiện sự đồng cảm và phê phán xã hội.

Kết luận

Đoạn ca dao "Trông lên cửu bệ..." là một minh chứng nghệ thuật đặc sắc cho thể loại ca dao dân ca. Nó không chỉ phản ánh hiện thực xã hội mà còn thể hiện sâu sắc tâm tư, tình cảm của người dân lao động.

Bài viết liên quan

Chưa đi chưa biết Cửa Ông

Đến đây mới biết đường không lối về

Phu sắng-tẩy ai thuê mà đánh

Thẻ than sàng ai bán mà mua

Nhà quê còn có ngày mùa

Đi nhặt, đi mót hột thừa mà ăn

Ở đây rét đói quanh năm

Đi câu cá: rủi, đi săn: hổ vồ

Khu Bò Đái xương khô rải rác

Bến Lò Vôi mấy xác bồng bềnh

Lạc loài bể khổ mông mênh

Thân vờ xơ xác lênh đênh chét mòn

Trót nghe bầu bạn ra đây

Lạ thung, lạ thổ, lạ cây, lạ nhà

Đồn Cẩm Phả sơn hà bát ngát

Huyện Hoành Bồ đá cát mênh mông

Ai ơi đứng lại mà trông

Kìa khe nước độc, nọ ông hùm già

Vui gì mà rủ nhau ra

Làm ăn khổ cực nghĩ mà tủi thân.

Câu ca dao "Chưa đi chưa biết Cửa Ông" là lời cảnh báo về sự khắc nghiệt và hiểm nguy của vùng đất xa lạ, nơi cuộc sống khó khăn, thiếu thốn. Bài ca thể hiện nỗ...

Ai đem tôi đến chốn này

Bên kia Vạ Cháy, bên này Bang Gai

Trên đồn có lão quan hai

Cửa Lục tàu đậu một vài chỗ sâu

Thằng Tây mưu mẹo đã lâu

Đóng ba chiếc tầu chạy cạn cả ba

Một chiếc thì chạy Cốt Na

Chiếc vào Hà Sú, chiếc ra Hà Lầm

Mười giờ rưỡi nó kéo còi tầm

Cu li đâu đấy về nằm nghỉ ngơi

Đến mười hai giờ bốn mươi

Síp lê một tiếng muôn người kéo ra

Nó quát một tiếng chẳng là

Nó quát hai tiếng giãn ra hai hàng

Xướng thẻ thì xướng rõ ràng

Nó biên vào sổ đi làm táo tươi

Người thì ghè đá nung vôi

Người thì vác gỗ ai coi cho tường

Người thì xẻ đất đắp đường

Người thì đánh sắt ở trong lò rèn

Người thì xẻ ván đóng xe

Người thì chẻ trúc, chẻ tre đan lồng

Người xe hỏa, người máy rồng

Người biên kho gỗ, người trông kho dầu …

Tác phẩm ca dao này phản ánh chân thực cảnh lao động khổ sai của người dân Việt Nam dưới thời Pháp thuộc. Nó khắc họa một bức tranh sống động về cuộc sống bị bó...

Tài nguyên than mỏ nước Nam

Thằng Tây làm chủ, mình làm cu li

Chỉ vì đói rách phải đi

Đi làm phu mỏ, bỏ quê, bỏ nhà

Một nghìn chín trăm ba ba

Là năm Quý Dậu con gà ác thay

Kể dời phu mỏ Hòn Gai

Công ty than của chủ Tây sang làm

Chiêu phu mộ Khách, An Nam

Cuốc tầng khai mỏ tìm than ra vầy

Than ra ở các mỏ này

Hà Lầm, Hà Sú, mỏ rày Ngã Hai

Bán than cho các nước ngoài

Tàu bè ngoại quốc vãng lai mua dùng

Chủ nhì, chủ nhất, đốc công

Mỗi sở một sếp cai trong sở làm

Làm ra máy trục, máy sàng

Sở Tàu, Than Luyện, Sở Than chung là

Va-gông, than chở về ga

La-ga đặt ở Cốt Na cổng đồn

Để cho xe hỏa dắt dồn

Thật là tiện lợi gọn gàng vân vi

Ăng Lê, Nhật Bản, Hoa Kỳ

Hồng Kông, Thượng Hải đều thì sang mua

Cửa Ông là Cẩm Phả po

Cẩm Phả min, Cọc Sáu, cùng là Mông Dương

Ngoại giao các nước thông thương

Hòn Gai giàu vốn lại cường thịnh ra

Tây Bay coi sổ la voa

Bắc ngay đường sắt cho xe thông hành

Một đường đi thẳng Hà Lầm

Một đường Núi Béo, Cọc Năm đi về …

Tác phẩm dân ca này là lời than thở, tố cáo nỗi khổ của người dân Việt Nam dưới thời Pháp thuộc. Bài ca mô tả cảnh khai thác than tại Hòn Gai, nơi người Việt tr...