Vì con cha mẹ nên gầy

Lưng còng, vú xếch vì mày con ơi

Đi làm khoác cái áo tơi

Mưa dầm, gió bấc, miệng thời xuýt xoa

Từ khi bỏ cửa bỏ nhà

Vợ chồng dắt díu nhau ra mỏ này

Lên tầng sợ hãi thằng Tây

Cu-xoong đá đít mũi giày bạt tai.

— Văn học dân gian Việt Nam
Đoạn ca dao trên khắc họa nỗi khổ của người dân lao động, đặc biệt là những người phải làm phu phen cực nhọc trong xã hội xưa. Bài ca dao thể hiện tình yêu thương sâu sắc của cha mẹ dành cho con cái.

Giải nghĩa câu tục ngữ

Nghĩa đen

Câu ca dao miêu tả hình ảnh cha mẹ lam lũ, hy sinh sức khỏe, thân thể vì con cái. Họ phải làm lụng vất vả nơi mỏ than, chịu đựng mưa gió, rét buốt, thậm chí là sự hà khắc của chủ đồn điền Tây.

Nghĩa bóng

Bài ca dao là lời ngợi ca tình phụ mẫu thiêng liêng, cao cả. Nó cho thấy sự hy sinh vô bờ bến của cha mẹ, mong muốn con cái được sung sướng, đủ đầy hơn mình. Đồng thời, nó cũng tố cáo xã hội bất công, bóc lột sức lao động của người dân.

Nguồn gốc và Xuất xứ

Đoạn ca dao này ra đời trong bối cảnh xã hội Việt Nam đầu thế kỷ 20, khi thực dân Pháp đô hộ và tiến hành khai thác tài nguyên, đặc biệt là than đá. Các mỏ than được lập ra với quy mô lớn, thu hút hàng vạn người dân từ khắp nơi đến làm phu phen. Điều kiện lao động vô cùng khắc nghiệt, người dân phải làm việc quần quật từ sáng đến tối dưới mọi điều kiện thời tiết. Họ bị bóc lột sức lao động tàn tệ, bị đối xử như nô lệ, thường xuyên bị đánh đập, hành hạ bởi chủ đồn điền và cai công người Pháp. "Thằng Tây", "cu-xoong", "mũi giày bạt tai" là những hình ảnh cụ thể, chân thực về sự hà khắc và tàn bạo đó. Bài ca dao ra đời từ chính thực tiễn đau khổ, nhọc nhằn của những người phu mỏ, phản ánh nỗi lòng của họ, sự thương con và oán ghét xã hội áp bức.

Ví dụ sử dụng thực tế

Ví dụ 1
"Khi thấy con cái ăn mặc rách rưới, mẹ tôi thường thở dài nói "Vì con cha mẹ nên gầy...""
Phân tích: Người mẹ dùng câu ca dao này để diễn tả sự vất vả, hy sinh của mình và chồng để lo cho con cái được ăn mặc tươm tất hơn. Câu nói thể hiện tình yêu thương và sự xót xa cho hoàn cảnh của cha mẹ.

Kết luận

Đoạn ca dao là một minh chứng sống động cho tình yêu thương gia đình và sự chịu đựng phi thường của người dân lao động Việt Nam dưới thời Pháp thuộc. Tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao trong việc miêu tả chân thực và lay động lòng người.

Bài viết liên quan

Chưa đi chưa biết Cửa Ông

Đến đây mới biết đường không lối về

Phu sắng-tẩy ai thuê mà đánh

Thẻ than sàng ai bán mà mua

Nhà quê còn có ngày mùa

Đi nhặt, đi mót hột thừa mà ăn

Ở đây rét đói quanh năm

Đi câu cá: rủi, đi săn: hổ vồ

Khu Bò Đái xương khô rải rác

Bến Lò Vôi mấy xác bồng bềnh

Lạc loài bể khổ mông mênh

Thân vờ xơ xác lênh đênh chét mòn

Trót nghe bầu bạn ra đây

Lạ thung, lạ thổ, lạ cây, lạ nhà

Đồn Cẩm Phả sơn hà bát ngát

Huyện Hoành Bồ đá cát mênh mông

Ai ơi đứng lại mà trông

Kìa khe nước độc, nọ ông hùm già

Vui gì mà rủ nhau ra

Làm ăn khổ cực nghĩ mà tủi thân.

Câu ca dao "Chưa đi chưa biết Cửa Ông" là lời cảnh báo về sự khắc nghiệt và hiểm nguy của vùng đất xa lạ, nơi cuộc sống khó khăn, thiếu thốn. Bài ca thể hiện nỗ...

Ai đem tôi đến chốn này

Bên kia Vạ Cháy, bên này Bang Gai

Trên đồn có lão quan hai

Cửa Lục tàu đậu một vài chỗ sâu

Thằng Tây mưu mẹo đã lâu

Đóng ba chiếc tầu chạy cạn cả ba

Một chiếc thì chạy Cốt Na

Chiếc vào Hà Sú, chiếc ra Hà Lầm

Mười giờ rưỡi nó kéo còi tầm

Cu li đâu đấy về nằm nghỉ ngơi

Đến mười hai giờ bốn mươi

Síp lê một tiếng muôn người kéo ra

Nó quát một tiếng chẳng là

Nó quát hai tiếng giãn ra hai hàng

Xướng thẻ thì xướng rõ ràng

Nó biên vào sổ đi làm táo tươi

Người thì ghè đá nung vôi

Người thì vác gỗ ai coi cho tường

Người thì xẻ đất đắp đường

Người thì đánh sắt ở trong lò rèn

Người thì xẻ ván đóng xe

Người thì chẻ trúc, chẻ tre đan lồng

Người xe hỏa, người máy rồng

Người biên kho gỗ, người trông kho dầu …

Tác phẩm ca dao này phản ánh chân thực cảnh lao động khổ sai của người dân Việt Nam dưới thời Pháp thuộc. Nó khắc họa một bức tranh sống động về cuộc sống bị bó...

Tài nguyên than mỏ nước Nam

Thằng Tây làm chủ, mình làm cu li

Chỉ vì đói rách phải đi

Đi làm phu mỏ, bỏ quê, bỏ nhà

Một nghìn chín trăm ba ba

Là năm Quý Dậu con gà ác thay

Kể dời phu mỏ Hòn Gai

Công ty than của chủ Tây sang làm

Chiêu phu mộ Khách, An Nam

Cuốc tầng khai mỏ tìm than ra vầy

Than ra ở các mỏ này

Hà Lầm, Hà Sú, mỏ rày Ngã Hai

Bán than cho các nước ngoài

Tàu bè ngoại quốc vãng lai mua dùng

Chủ nhì, chủ nhất, đốc công

Mỗi sở một sếp cai trong sở làm

Làm ra máy trục, máy sàng

Sở Tàu, Than Luyện, Sở Than chung là

Va-gông, than chở về ga

La-ga đặt ở Cốt Na cổng đồn

Để cho xe hỏa dắt dồn

Thật là tiện lợi gọn gàng vân vi

Ăng Lê, Nhật Bản, Hoa Kỳ

Hồng Kông, Thượng Hải đều thì sang mua

Cửa Ông là Cẩm Phả po

Cẩm Phả min, Cọc Sáu, cùng là Mông Dương

Ngoại giao các nước thông thương

Hòn Gai giàu vốn lại cường thịnh ra

Tây Bay coi sổ la voa

Bắc ngay đường sắt cho xe thông hành

Một đường đi thẳng Hà Lầm

Một đường Núi Béo, Cọc Năm đi về …

Tác phẩm dân ca này là lời than thở, tố cáo nỗi khổ của người dân Việt Nam dưới thời Pháp thuộc. Bài ca mô tả cảnh khai thác than tại Hòn Gai, nơi người Việt tr...