Nghe vẻ nghe ve

Nghe vè Thiện Tân

Mầu mộng muôn phần

Cơm khuya không có

Đi thời tó hó

Về lại tăng hăng

Chờ đặng bữa ăn

Ngã lăn thần tướng

Thân tôi ở mướn

Nó cực vô hồi

Bởi chú nói rồi

Nên tôi mới mắc …

— Văn học dân gian Việt Nam
Câu vè Thiện Tân là một làn điệu dân gian quen thuộc, thường được hát đối đáp trong các lễ hội hoặc sinh hoạt cộng đồng. Nó phản ánh một cách dí dỏm, mộc mạc cuộc sống lao động và tâm tư của người dân.

Giải nghĩa câu tục ngữ

Nghĩa đen

Câu vè miêu tả cảnh một người phải làm việc khuya, đến bữa cơm tối muộn không có gì ăn, đói lả người. Khi về nhà, vẫn không được nghỉ ngơi mà phải tiếp tục chờ đợi bữa ăn, tỏ rõ sự mệt mỏi và tủi thân.

Nghĩa bóng

Ẩn sau lời lẽ mộc mạc là sự than thân trách phận về cuộc sống cơ cực, lận đận. Câu vè ngụ ý phê phán thái độ ỷ lại, vô trách nhiệm của người chủ hoặc người có trách nhiệm, khiến người làm công phải chịu nhiều thiệt thòi và khổ sở.

Nguồn gốc và Xuất xứ

Câu vè này có khả năng ra đời trong bối cảnh xã hội phong kiến hoặc thời kỳ đầu của xã hội ta, khi mà quan hệ chủ - tớ, chủ - người làm thuê còn phổ biến. Trong nền nông nghiệp lúa nước, người nông dân hoặc người làm công thường phải lao động vất vả, từ sáng sớm đến tối muộn. Câu vè phản ánh thực tế cuộc sống của tầng lớp lao động nghèo khổ, ít được chăm lo về vật chất. Đặc biệt, yếu tố 'cơm khuya', 'tăng hăng' cho thấy sự bấp bênh, thiếu thốn trong bữa ăn hàng ngày. 'Thần tướng' ở đây có thể là cách nói ví von hài hước về sự mệt mỏi rã rời, hoặc ám chỉ người làm công phải gồng gánh mọi việc nặng nhọc. Việc 'ở mướn' là minh chứng rõ ràng cho thân phận làm thuê, phụ thuộc vào người khác, dẫn đến cảnh 'cực vô hồi'. Câu vè đã chắt lọc những hình ảnh đời thường, những cảm xúc chân thật để khắc họa nên bức tranh lao động đầy gian truân.

Ví dụ sử dụng thực tế

Ví dụ 1
"Khi mọi người trong nhà ai cũng mệt mỏi vì công việc đồng áng, ai đó có thể buông một câu vè này để chia sẻ sự khó nhọc."
Phân tích: Câu vè được sử dụng để diễn tả sự mệt mỏi, đói bụng sau một ngày lao động vất vả, mong chờ được nghỉ ngơi và ăn uống tươm tất, thể hiện tâm trạng chung của mọi người.

Kết luận

Câu vè Thiện Tân có giá trị nghệ thuật bởi ngôn ngữ giản dị, giàu hình ảnh và âm điệu lôi cuốn. Về tư tưởng, nó thể hiện sự đồng cảm với người lao động nghèo khổ và ngầm phê phán những bất công trong xã hội xưa.

Bài viết liên quan

Chưa đi chưa biết Cửa Ông

Đến đây mới biết đường không lối về

Phu sắng-tẩy ai thuê mà đánh

Thẻ than sàng ai bán mà mua

Nhà quê còn có ngày mùa

Đi nhặt, đi mót hột thừa mà ăn

Ở đây rét đói quanh năm

Đi câu cá: rủi, đi săn: hổ vồ

Khu Bò Đái xương khô rải rác

Bến Lò Vôi mấy xác bồng bềnh

Lạc loài bể khổ mông mênh

Thân vờ xơ xác lênh đênh chét mòn

Trót nghe bầu bạn ra đây

Lạ thung, lạ thổ, lạ cây, lạ nhà

Đồn Cẩm Phả sơn hà bát ngát

Huyện Hoành Bồ đá cát mênh mông

Ai ơi đứng lại mà trông

Kìa khe nước độc, nọ ông hùm già

Vui gì mà rủ nhau ra

Làm ăn khổ cực nghĩ mà tủi thân.

Câu ca dao "Chưa đi chưa biết Cửa Ông" là lời cảnh báo về sự khắc nghiệt và hiểm nguy của vùng đất xa lạ, nơi cuộc sống khó khăn, thiếu thốn. Bài ca thể hiện nỗ...

Ai đem tôi đến chốn này

Bên kia Vạ Cháy, bên này Bang Gai

Trên đồn có lão quan hai

Cửa Lục tàu đậu một vài chỗ sâu

Thằng Tây mưu mẹo đã lâu

Đóng ba chiếc tầu chạy cạn cả ba

Một chiếc thì chạy Cốt Na

Chiếc vào Hà Sú, chiếc ra Hà Lầm

Mười giờ rưỡi nó kéo còi tầm

Cu li đâu đấy về nằm nghỉ ngơi

Đến mười hai giờ bốn mươi

Síp lê một tiếng muôn người kéo ra

Nó quát một tiếng chẳng là

Nó quát hai tiếng giãn ra hai hàng

Xướng thẻ thì xướng rõ ràng

Nó biên vào sổ đi làm táo tươi

Người thì ghè đá nung vôi

Người thì vác gỗ ai coi cho tường

Người thì xẻ đất đắp đường

Người thì đánh sắt ở trong lò rèn

Người thì xẻ ván đóng xe

Người thì chẻ trúc, chẻ tre đan lồng

Người xe hỏa, người máy rồng

Người biên kho gỗ, người trông kho dầu …

Tác phẩm ca dao này phản ánh chân thực cảnh lao động khổ sai của người dân Việt Nam dưới thời Pháp thuộc. Nó khắc họa một bức tranh sống động về cuộc sống bị bó...

Tài nguyên than mỏ nước Nam

Thằng Tây làm chủ, mình làm cu li

Chỉ vì đói rách phải đi

Đi làm phu mỏ, bỏ quê, bỏ nhà

Một nghìn chín trăm ba ba

Là năm Quý Dậu con gà ác thay

Kể dời phu mỏ Hòn Gai

Công ty than của chủ Tây sang làm

Chiêu phu mộ Khách, An Nam

Cuốc tầng khai mỏ tìm than ra vầy

Than ra ở các mỏ này

Hà Lầm, Hà Sú, mỏ rày Ngã Hai

Bán than cho các nước ngoài

Tàu bè ngoại quốc vãng lai mua dùng

Chủ nhì, chủ nhất, đốc công

Mỗi sở một sếp cai trong sở làm

Làm ra máy trục, máy sàng

Sở Tàu, Than Luyện, Sở Than chung là

Va-gông, than chở về ga

La-ga đặt ở Cốt Na cổng đồn

Để cho xe hỏa dắt dồn

Thật là tiện lợi gọn gàng vân vi

Ăng Lê, Nhật Bản, Hoa Kỳ

Hồng Kông, Thượng Hải đều thì sang mua

Cửa Ông là Cẩm Phả po

Cẩm Phả min, Cọc Sáu, cùng là Mông Dương

Ngoại giao các nước thông thương

Hòn Gai giàu vốn lại cường thịnh ra

Tây Bay coi sổ la voa

Bắc ngay đường sắt cho xe thông hành

Một đường đi thẳng Hà Lầm

Một đường Núi Béo, Cọc Năm đi về …

Tác phẩm dân ca này là lời than thở, tố cáo nỗi khổ của người dân Việt Nam dưới thời Pháp thuộc. Bài ca mô tả cảnh khai thác than tại Hòn Gai, nơi người Việt tr...