Nghe vẻ nghe ve

Nghe vè ở mướn

Muốn cho sung sướng

Sanh tật quáng gà

Đi thì đầu ngả tới ngả lui

Thân tôi ăn cơm muối mặn

Ăn rồi uống hai tô chẵn chọt

Đầu đội nón chút

Vai vác cuốc cùn

Mần giùm mong cho mau tối

Tối về ăn ba hột cơm

Đầu hôm còn lao xao

Khuya lại vắng hoe

Chủ kêu làm bộ không nghe

Ngủ thêm chút nữa

— Văn học dân gian Việt Nam
Tác phẩm "Nghe vẻ nghe ve" là một bài vè dân gian Việt Nam mang đậm tính châm biếm sâu sắc. Bài vè miêu tả sinh động cuộc sống lam lũ, vất vả của người làm thuê dưới cái nhìn đầy mỉa mai nhưng cũng chứa đựng nỗi niềm của người lao động.

Giải nghĩa câu tục ngữ

Nghĩa đen

Bài vè mô tả người đi ở mướn, làm lụng vất vả từ sáng đến tối. Họ phải thức dậy sớm, làm việc nặng nhọc với cuốc cùn, ăn cơm với muối mặn, ngủ ít và cố gắng trì hoãn công việc. Ngay cả khi về nhà, họ cũng không được nghỉ ngơi trọn vẹn.

Nghĩa bóng

Ẩn dụ cho cuộc đời khổ cực, bị bóc lột của người nông dân, tá điền thời xưa. Bài vè thể hiện sự bất mãn, uất hận nhưng cũng đầy cam chịu của người lao động trước số phận nghiệt ngã, mong muốn được giải thoát khỏi kiếp sống lầm than.

Nguồn gốc và Xuất xứ

Bài vè "Nghe vẻ nghe ve" ra đời trong bối cảnh xã hội Việt Nam xưa, đặc biệt là thời kỳ phong kiến và nửa phong kiến, khi tầng lớp nông dân bị áp bức, bóc lột nặng nề. Cuộc sống "ở mướn" là hiện thực phổ biến, nơi những người nông dân nghèo khó không có ruộng đất phải bán sức lao động cho địa chủ, phú nông để đổi lấy cái ăn. Họ phải làm việc quần quật từ sáng sớm đến tối mịt, với công cụ thô sơ, điều kiện sinh hoạt thiếu thốn. Bài vè phản ánh trực tiếp "thực tiễn nông nghiệp" và "kinh nghiệm dân gian" của những người lao động chân tay, khắc họa nỗi khổ cực, sự cam chịu nhưng cũng ẩn chứa khát vọng tự do, mong muốn cuộc sống tốt đẹp hơn. "Quáng gà" chỉ việc thức dậy khi trời còn tối, "cơm muối mặn" là thức ăn đạm bạc, "cuốc cùn" là dụng cụ lao động cũ kỹ, tất cả đều là những hình ảnh quen thuộc, chân thực về đời sống của người nông dân "ăn cơm không đủ no, mặc không đủ ấm" thời xưa.

Ví dụ sử dụng thực tế

Ví dụ 1
"Khi thấy ai đó than vãn về công việc vất vả, tôi thường đùa rằng họ đang "ở mướn" giống như trong bài vè."
Phân tích: Câu này được dùng để ví von, châm biếm nhẹ nhàng tình cảnh làm việc cực nhọc của ai đó. Nó cho thấy sự quen thuộc của hình ảnh "ở mướn" trong văn hóa Việt Nam và cách bài vè này trở thành một cách nói ẩn dụ phổ biến trong đời sống.

Kết luận

Bài vè "Nghe vẻ nghe ve" không chỉ là một tác phẩm nghệ thuật dân gian độc đáo mà còn là minh chứng cho sức sáng tạo và tinh thần phản kháng của nhân dân lao động. Nó để lại giá trị lịch sử, văn hóa và bài học về sự đồng cảm với những phận đời cơ cực.

Bài viết liên quan

Chưa đi chưa biết Cửa Ông

Đến đây mới biết đường không lối về

Phu sắng-tẩy ai thuê mà đánh

Thẻ than sàng ai bán mà mua

Nhà quê còn có ngày mùa

Đi nhặt, đi mót hột thừa mà ăn

Ở đây rét đói quanh năm

Đi câu cá: rủi, đi săn: hổ vồ

Khu Bò Đái xương khô rải rác

Bến Lò Vôi mấy xác bồng bềnh

Lạc loài bể khổ mông mênh

Thân vờ xơ xác lênh đênh chét mòn

Trót nghe bầu bạn ra đây

Lạ thung, lạ thổ, lạ cây, lạ nhà

Đồn Cẩm Phả sơn hà bát ngát

Huyện Hoành Bồ đá cát mênh mông

Ai ơi đứng lại mà trông

Kìa khe nước độc, nọ ông hùm già

Vui gì mà rủ nhau ra

Làm ăn khổ cực nghĩ mà tủi thân.

Câu ca dao "Chưa đi chưa biết Cửa Ông" là lời cảnh báo về sự khắc nghiệt và hiểm nguy của vùng đất xa lạ, nơi cuộc sống khó khăn, thiếu thốn. Bài ca thể hiện nỗ...

Ai đem tôi đến chốn này

Bên kia Vạ Cháy, bên này Bang Gai

Trên đồn có lão quan hai

Cửa Lục tàu đậu một vài chỗ sâu

Thằng Tây mưu mẹo đã lâu

Đóng ba chiếc tầu chạy cạn cả ba

Một chiếc thì chạy Cốt Na

Chiếc vào Hà Sú, chiếc ra Hà Lầm

Mười giờ rưỡi nó kéo còi tầm

Cu li đâu đấy về nằm nghỉ ngơi

Đến mười hai giờ bốn mươi

Síp lê một tiếng muôn người kéo ra

Nó quát một tiếng chẳng là

Nó quát hai tiếng giãn ra hai hàng

Xướng thẻ thì xướng rõ ràng

Nó biên vào sổ đi làm táo tươi

Người thì ghè đá nung vôi

Người thì vác gỗ ai coi cho tường

Người thì xẻ đất đắp đường

Người thì đánh sắt ở trong lò rèn

Người thì xẻ ván đóng xe

Người thì chẻ trúc, chẻ tre đan lồng

Người xe hỏa, người máy rồng

Người biên kho gỗ, người trông kho dầu …

Tác phẩm ca dao này phản ánh chân thực cảnh lao động khổ sai của người dân Việt Nam dưới thời Pháp thuộc. Nó khắc họa một bức tranh sống động về cuộc sống bị bó...

Tài nguyên than mỏ nước Nam

Thằng Tây làm chủ, mình làm cu li

Chỉ vì đói rách phải đi

Đi làm phu mỏ, bỏ quê, bỏ nhà

Một nghìn chín trăm ba ba

Là năm Quý Dậu con gà ác thay

Kể dời phu mỏ Hòn Gai

Công ty than của chủ Tây sang làm

Chiêu phu mộ Khách, An Nam

Cuốc tầng khai mỏ tìm than ra vầy

Than ra ở các mỏ này

Hà Lầm, Hà Sú, mỏ rày Ngã Hai

Bán than cho các nước ngoài

Tàu bè ngoại quốc vãng lai mua dùng

Chủ nhì, chủ nhất, đốc công

Mỗi sở một sếp cai trong sở làm

Làm ra máy trục, máy sàng

Sở Tàu, Than Luyện, Sở Than chung là

Va-gông, than chở về ga

La-ga đặt ở Cốt Na cổng đồn

Để cho xe hỏa dắt dồn

Thật là tiện lợi gọn gàng vân vi

Ăng Lê, Nhật Bản, Hoa Kỳ

Hồng Kông, Thượng Hải đều thì sang mua

Cửa Ông là Cẩm Phả po

Cẩm Phả min, Cọc Sáu, cùng là Mông Dương

Ngoại giao các nước thông thương

Hòn Gai giàu vốn lại cường thịnh ra

Tây Bay coi sổ la voa

Bắc ngay đường sắt cho xe thông hành

Một đường đi thẳng Hà Lầm

Một đường Núi Béo, Cọc Năm đi về …

Tác phẩm dân ca này là lời than thở, tố cáo nỗi khổ của người dân Việt Nam dưới thời Pháp thuộc. Bài ca mô tả cảnh khai thác than tại Hòn Gai, nơi người Việt tr...