Ca dao dân ca

Thể loại văn học dân gian Việt Nam: Ca dao dân ca.

Tai nghe Chúa ngự thuyền rồng

Thiếp thương phận thiếp má hồng nắng mưa

Thuyền rồng Chúa ngự đi đâu

Thiếp thương phận thiếp hái dâu một mình

Tác phẩm "Tai nghe Chúa ngự thuyền rồng" là một đoạn trích tiêu biểu của thể loại ca dao dân ca Việt Nam, thể hiện tâm tư, tình cảm của người phụ nữ trong xã hộ...

Tháng giêng thì lúa xanh già

Tháng hai lúa trổ, tháng ba lúa vàng

Tháng tư cuốc đất trồng lang

Tháng năm cày cuốc tiếng nàng hò lơ

Tháng sáu làm cỏ dọn bờ

Tháng bảy trổ cờ, tháng tám chín thơm

Gặt về đạp lúa phơi rơm

Mồ hôi đổi lấy bát cơm hàng ngày

Lúa khô giê sạch cất ngay

Chỗ cao ta để phòng ngày nước dâng

Mùa đông mưa bão nhiều lần

Nàng xay, chàng giã cùng ngân tiếng hò

Tháng mười cày cấy mưa to

Trông trời, trông đất cầu cho được mùa

Câu ca dao "Tháng giêng thì lúa xanh già..." là bức tranh sinh động về lao động nông nghiệp và nhịp sống của người nông dân Việt Nam xưa. Tác phẩm thể hiện sự g...

Cha mẹ giàu thì con thong thả

Cha mẹ nghèo con vất vả gian nan

Sớm mai lên núi đốt than

Chiều về xuống bể đào hang bắt còng

Em dặn anh chặt dạ bền lòng

Ai xe trăm dây cũng không dứt, ai thắt ngàn vòng cũng không ra

Tác phẩm ca dao "Cha mẹ giàu thì con thong thả..." là một lời than thở về sự bất công của số phận, phản ánh thực trạng xã hội xưa. Câu ca dao thể hiện nỗi lòng...

Kẻ đi kiệu, người đánh cờ

Kẻ thời đọc sách người xem thơ nói tuồng

Chồng tôi trốn tránh luôn luôn

Chuyện chi không nói giả tuồng đứa câm

Nghĩ ra chuốc khổ vào thân

Trách cho bà Nguyệt xe lầm mối tơ

Tiếc công phu mấy đợi mấy chờ

Sĩ nho không gặp, gặp đứa khờ làm chi

Hay vầy tui chẳng có chồng chi

Một mình ở vậy quy y lên chùa

Đoạn ca dao than thân trách phận này miêu tả nỗi khổ của người phụ nữ lấy phải người chồng không xứng đôi, vô dụng. Lời ca thể hiện sự bất mãn, thất vọng và nuố...

– Liệu bề đát được thì đan

Đừng gầy ra bỏ đó thế gian họ cười

– Các cô ơi, tôi không phải trai hư

Tôi đát được, tôi đan được, tôi lận bây giờ cho cô coi

Lận rồi tôi cột chặt hẳn hoi

Ở trên tôi rấn xuống ở ngoài tôi đè vô

Nói ra sợ mất lòng mấy cô

Ngó trong cái mủng chỗ mô tôi cũng dùi

Đoạn trích "Liệu bề đát được thì đan... chỗ mô tôi cũng dùi" là một phần của ca dao than thân, thể hiện lời khẩn cầu chân thành và ý chí quyết tâm của người lao...

– Trước nhà em có cây tùng tán, trả một ngàn không bán

Sau nhà em có cây liễu rũ, nhiều chủ muốn mua

Thân em như trái thơm chua

Kẻ ngang qua chép miệng, người muốn mua không tiền

– Trước nhà em có cây tùng tán ngã ngáng bên đường

Sau nhà em có cây liễu rũ để chim cú đậu đỡ đôi ngày

Thân em như trái thơm chua

Núp trong bụi rậm chờ ngày sóc ăn.

Hai câu ca dao này miêu tả thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa, qua hình ảnh ẩn dụ về cây tùng, cây liễu và trái thơm. Tác phẩm khắc họa nỗi niềm...

Con gà kia muốn đá, cực vì chân kia không cựa

Con chim kia trên ổ muốn bay, cực vì cánh nọ không lông

Anh còn mắc ba bốn chữ tang bồng

Chưa đi đến bạn, bạn có chồng nơi xa

Mời anh, anh cũng tới nhà

Trước ăn trầu uống rượu, sau nơi xa em kết nguyền

Đoạn ca dao thể hiện nỗi lòng day dứt, trắc trở của cô gái trong tình yêu khi duyên phận lỡ làng. Lời lẽ mộc mạc, hình ảnh gần gũi nhưng ẩn chứa tâm tư sâu kín.