Đang lọc theo thẻ: Pháp thuộc

Cơn mây gió trời Nam bảng lảng

Bước anh hùng nhiều chặng gian truân

Ngẫm xem con tạo xoay vần

Bày ra một cuộc duy tân cũng kì

Suốt thân sĩ ba kì Nam Bắc

Bỗng giật mình sực thức cơn mê

Học, thương, xoay đủ mọi nghề

Cái hồn ái quốc gọi về cũng mau

Hồn đã tỉnh, bảo nhau cùng dậy

Chưa học bò vội chạy đua theo

Khi lên như gió thổi diều

Trong hò xin thuế, ngoài reo hãm thành

Cách hoạt động người mình còn dại

Sức oai quyền ép lại càng mau

Tội nguyên đổ đám nho lưu

Bắc kì thân sĩ đứng đầu năm tên …

Tác phẩm "Vè người anh hùng" là một đoạn trích tiêu biểu của thể loại vè, phản ánh nỗi trăn trở về vận mệnh đất nước và khát vọng tìm kiếm người lãnh đạo tài ba...

Trách vua Tự Đức hai lòng

Đi về bên đạo, bỏ công bên đời

Mần quan ra rồi

Vượt lòng không cạn

Tây sang buôn bán

Viện lấy giữ nhà

Ai biết sự là

Tây sang cướp nước

Khi mới sang, đánh được

Răng không đánh đi cho …

Vè "Trách vua Tự Đức hai lòng" là một tác phẩm văn học dân gian đặc sắc, phản ánh cái nhìn phê phán của nhân dân đối với triều đình nhà Nguyễn trong giai đoạn l...

Năm Đinh Tỵ mười ba tháng bảy

Nước Nam mình phút dậy can qua

Thái Nguyên nay có một tòa

Khố xanh, khố đỏ được ba trăm người

Cũng chí toan chọc trời khuấy nước

Ông Đội ra đi trước cầm binh

Rủ nhau lập tiểu triều đình

Những là cai đội khố xanh bằng lòng

Duy phó quản bất tòng quân lệnh

Hóa cho nên hủy mệnh xót xa

Sai người mở cửa nhà pha

Đem tù ra điểm được là bao nhiêu?

Truyền tù nhân cứ theo quân lệnh

Chớ thị thường uổng mệnh như chơi

Rồi ra làm lễ tế trời

Cờ đề “Phục Quốc” tài bồi Nam bang …

Đoạn vè trên là một tác phẩm văn học dân gian, phản ánh một sự kiện lịch sử có thật trong quá khứ. Lời vè mô tả chi tiết một cuộc khởi nghĩa hoặc một phong trào...

Tôi có nhời thăm u cùng bá

Ở trên này khổ quá u ơi

Khi nào thong thả mát giời

Mời u quá bộ lên chơi vài ngày

Làm kíp chả được tiền ngay

Phải ăn gạo ngữ của thầy cai Sơn

Một đồng mười sáu bơ đơn

Đong đi đong lại chỉ còn mười lăm

Thầy cai cứ đứng chăm chăm

Hễ ai hút thuốc lại nhằm cắt công

Trời mưa có thấu hay không

Quanh năm chẳng có một đồng thừa ra

Lấy gì đồng bánh, đồng quà

Lấy gì mà gửi về nhà nuôi con

Mười năm làm ở đỉnh non

Ở nhà cha mẹ vợ con mất nhờ

Thân tôi khổ đến bao giờ?

Tác phẩm "Vè người đi phu

Vào tầng cũng lắm thằng Tây

Thằng kia mũ trắng, thằng đây mũ vàng

Đường goòng bắc dọc bắc ngang

Nào hầm lò, nào xe cộ linh tinh

Trôg lên núi lửa cháy bừng bừng

Mìn nổ đùng đùng, đá chuyển vang vang

Đường tầng như thể bậc thang

Trèo đèo, xuống dốc, ngổn ngang tơi bời

Trông lên những núi cùng trời

Ngoảnh mặt kẻ trước người sau giật mình

Mênh mông ngao ngán một màu

Đường xa cách mấy lần tàu ai ơi.

Đây là một bài ca dao thể hiện cái nhìn của người lao động Việt Nam về công cuộc khai thác hầm lò ở các mỏ than dưới thời Pháp thuộc. Bài ca thể hiện sự vất vả,...

Sáng ngày mới sớm tinh sương

Cơm trôi khỏi miệng vác choòng ra đi

Vợ nghèo ẵm trẻ hài nhi

Lên tầng để bụi, rồi đi đẩy goòng

Trẻ thơ nằm mớ bòng bong

Nô đùa muỗi cỏ, đói lòng ngậm que

Lên tầng khuỵu gối đun xe

Gò lưng mửa mật nắng hè quản chi

Chồng xuống lò giếng đen sì

Mong sao cho chóng chiều về một công!

Bài ca dao mô tả cảnh lao động vất vả, nhọc nhằn của người nông dân Việt Nam xưa. Tác phẩm khắc họa chân thực cuộc sống mưu sinh đầy gian truân, thể hiện nỗi lò...

Nghề làm mỏ là nghề cực khổ

Dấn thân vào những chỗ hang sâu

Quanh năm cơm nắm nước bầu

Trời xanh mây biếc trên đầu biết chi

Dưới lò giếng lần đi từng bước

Đào khoét ra mới được đồng công

Suốt ngày cặm cụi lao lung

Than già, đá rắn cũng không quản gì

Tay cầm cuốc, mặt thì cúi gập

Lưng gò vào như gấp làm đôi

Loanh quanh xoay xở hết hơi

Tấm thân như hãm vào nơi ngục tù

Mãi đến lúc sương mù ngả bóng

Mới là giờ vội vã trèo lên

Trong ra non nước hai bên

Biết mình còn sống ở trên cõi trần.

Tác phẩm ca dao "Nghề làm mỏ là nghề cực khổ" là lời than thở về cuộc đời nhọc nhằn của người thợ mỏ. Bài ca dao khắc họa chân thực hiện thực lao động đầy gian...

Anh làm lò đá thì có máy khoan

Một ngày sáu lỗ nó giao đoan cho liền

Anh mà làm được vẹn tuyền

Thì anh mới được tính tiền công cho

Công thì bốn tám đồng xu

Gạo thì ăn chịu để phu phàn nàn

Tiền công hàng tháng chẳng hoàn

Nó còn lưu lại để giam giữ mình

Thằng Tây, thằng xếp một vành

Mồ hôi công sức của mình chúng ăn

Làm thì phoi đá, phong than

Anh hít vào ruột vào gan suốt ngày

Mắc bệnh gầy yếu đắng cay

Cơn ho hộc máu chảy ngay ròng ròng

Cảnh nghèo cực khổ vô cùng

Thuốc thang chẳng có lăn đùng chết tươi.

Đây là một bài ca dao thể hiện nỗi khổ của người lao động làm trong các xưởng lò đá thời Pháp thuộc. Bài ca dao phản ánh chân thực hiện thực xã hội đầy bất công...

Bây giờ đã chín mười giờ

Đã tầm nhà máy mà chưa thấy chàng

Trông ra nhà máy rõ ràng

Thấy chàng đun bếp dọn bàn rửa xoong

Ngày công chết đói đã xong

Lại thêm một buổi không công hầu người

Ăn thì gạo mục cá khô

Ngày mười hai tiếng đồng hồ đội than.

Đoạn ca dao trên khắc họa chân thực cuộc sống lam lũ, vất vả của người lao động, đặc biệt là những người phụ nữ, trong xã hội xưa. Nó phản ánh một thực trạng đa...

Em là con gái tỉnh Nam

Chạy tàu vượt biển ra làm Cửa Ông

Từ khi mới mở Cửa Ông

Đi làm thì ít, đi rông thì nhiều

Chị em cực nhục trăm điều

Trước làm một lượt đã trèo cầu thang

Đặt mình chưa ấm chỗ nằm

Đã lại còi tầm hú gọi ra đi

Dế kêu, suối chảy rầm rì

Bắt cô trói cột não nề ngân nga

Đoàn người hay quỷ hay ma

Tay mai, tay cuốc, sương sa mịt mù

Hai bên gió núi ù ù

Tưởng oan hồn của dân phu hiện về.

Bài ca dao trên khắc họa một cách chân thực cuộc sống lao động vất vả, gian khổ của người phụ nữ trong xã hội xưa. Nó là tiếng than thở, là lời tố cáo đầy xót x...

Tài nguyên than mỏ nước Nam

Thằng Tây làm chủ, mình làm cu li

Chỉ vì đói rách phải đi

Đi làm phu mỏ, bỏ quê, bỏ nhà

Một nghìn chín trăm ba ba

Là năm Quý Dậu con gà ác thay

Kể dời phu mỏ Hòn Gai

Công ty than của chủ Tây sang làm

Chiêu phu mộ Khách, An Nam

Cuốc tầng khai mỏ tìm than ra vầy

Than ra ở các mỏ này

Hà Lầm, Hà Sú, mỏ rày Ngã Hai

Bán than cho các nước ngoài

Tàu bè ngoại quốc vãng lai mua dùng

Chủ nhì, chủ nhất, đốc công

Mỗi sở một sếp cai trong sở làm

Làm ra máy trục, máy sàng

Sở Tàu, Than Luyện, Sở Than chung là

Va-gông, than chở về ga

La-ga đặt ở Cốt Na cổng đồn

Để cho xe hỏa dắt dồn

Thật là tiện lợi gọn gàng vân vi

Ăng Lê, Nhật Bản, Hoa Kỳ

Hồng Kông, Thượng Hải đều thì sang mua

Cửa Ông là Cẩm Phả po

Cẩm Phả min, Cọc Sáu, cùng là Mông Dương

Ngoại giao các nước thông thương

Hòn Gai giàu vốn lại cường thịnh ra

Tây Bay coi sổ la voa

Bắc ngay đường sắt cho xe thông hành

Một đường đi thẳng Hà Lầm

Một đường Núi Béo, Cọc Năm đi về …

Tác phẩm dân ca này là lời than thở, tố cáo nỗi khổ của người dân Việt Nam dưới thời Pháp thuộc. Bài ca mô tả cảnh khai thác than tại Hòn Gai, nơi người Việt tr...